Cập nhật ngày 05/02/2019 - 16:10:26

           

Thành công trong kiểm soát lạm phát 2018 và dự báo năm 2019

Kiểm soát lạm phát là một trong những trụ cột quan trọng của ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong 2 năm liền (2017 và 2018), Việt Nam đã đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng GDP đạt mức khả quan; lạm phát được kiềm chế ở mức thấp. Nền kinh tế đã thành công đạt “mục tiêu kép” là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội.

Nhìn lại kiểm soát lạm phát năm 2018

Những điểm nổi bật

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân của Việt Nam tăng 3,54% so với năm 2017 và tăng 2,98% so với tháng 12/2017, mỗi tháng tăng bình quân 0,25%. Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý, bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tăng 1,48% so với năm 2017.

Trong năm qua, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu từ việc tăng giá lương thực, thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục. Mức tăng lạm phát cơ bản trong năm 2018 so với cùng kỳ có biên độ dao động trong khoảng 1,18%-1,72%, lạm phát cơ bản bình quân năm tăng 1,48%, thấp hơn mức kế hoạch 1,6%, cho thấy chính sách tiền tệ thành công trong việc điều hành ổn định giá trị đồng tiền (VND).

CPI các tháng đầu năm biến động theo hướng tăng dần qua các tháng, từ mức 2,65% (tháng 1) tiến dần đến mức 3,01% (bình quân 5 tháng), tăng với tốc độ nhanh hơn trong 2 tháng tiếp theo lên mức 3,45% (bình quân 7 tháng) và dần ổn định trong khoảng 3,5%-3,6% trong các tháng cuối năm (Hình).

Hình: Diễn biến CPI qua các tháng

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Như vậy, tiếp đà của năm 2017, mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% của Quốc hội trong năm 2018 đã thành công. Nền kinh tế bước đầu hoạt động có hiệu quả, thành công “mục tiêu kép” là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội.

Các yếu tố tác động tới CPI năm 2018

Diễn biến CPI trong năm 2018 chịu tác động của một số yếu tố làm gia tăng sức ép lên mặt bằng giá. Cụ thể, giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 02/2017/TT-BYT, ngày 15/03/2017 của Bộ Y tế quy định mức khung tối đa giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế tại 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 39/2018/TT- BYT, ngày 30/11/2018 của Bộ Y tế quy định mức khung tối đa giá dịch vụ y tế đối với người có thẻ bảo hiểm y tế, giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 13,86% làm cho CPI năm 2018 tăng 0,54% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, ngày 02/10/2015 của Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tăng học phí các cấp học, khiến cho chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2018 tăng 7,06%, tác động làm cho CPI năm 2018 tăng 0,36% so với cùng kỳ. Mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp tăng từ ngày 01/01/2018 (tính trung bình, mức lương tối thiểu vùng năm 2018 cao hơn mức lương tối thiểu vùng năm 2017 khoảng 180.000-230.000 đồng/tháng, tăng khoảng 6,5%), mức lương cơ sở tăng 90.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/07/2018 theo Nghị quyết số 49/2017/QH17, ngày 13/11/2017 của Quốc hội, nên giá một số loại dịch vụ, như: dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ sửa chữa, lắp đặt điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình có mức tăng giá từ 3%-5% so với cùng kỳ năm trước.

Đối với yếu tố thị trường, giá các mặt hàng lương thực tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm cho CPI tăng 0,17%, do giá gạo tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán và tăng theo giá gạo xuất khẩu. Trong đó, giá gạo xuất khẩu tăng do nhu cầu gạo tăng từ thị trường Trung Quốc và thị trường các nước Đông Nam Á. Năm 2018, giá thịt lợn tăng 10,37% so với cùng kỳ năm trước làm cho CPI chung tăng 0,44%.

Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 2,54% do một số đơn vị vận tải hành khách kê khai tăng giá chiều đông khách, cùng với việc Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá vé tàu hỏa vào dịp Tết Nguyên đán và dịp hè. Bên cạnh đó, giá gas sinh hoạt điều chỉnh theo giá gas thế giới, tăng 6,93% năm 2018 so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu xây dựng tăng, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,59% so với cùng kỳ 2017, góp phần làm cho CPI tăng 0,11%.

Giá thuê nhà ở tăng 1,01% so với cùng kỳ năm 2017 do ảnh hưởng của giá bất động sản tăng mạnh ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương…

Năm 2018, giá nhiên liệu trên thị trường thế giới tăng khá mạnh đến đầu tháng 10, sau liên tục giảm mạnh cho đến cuối tháng 12/2018. Tuy nhiên, bình quân giá dầu Brent từ ngày 01/01/2018 đến 20/12/2018 ở mức 71,60 USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức 54,53 USD/thùng bình quân năm 2017, tăng 31,3%. Trong nước, giá xăng A5 được điều chỉnh 8 đợt tăng, 8 đợt giảm, tổng cộng giảm 1.190 đồng/lít; giá dầu diezel được điều chỉnh tăng 11 đợt và giảm 8 đợt, tổng tăng 840 đồng/lít, làm cho chỉ số giá nhóm xăng dầu bình quân năm 2018 tăng 15,25% so với cùng kỳ, góp phần tăng CPI chung 0,64%.

Trong năm 2018, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất bốn lần vào các tháng 3, 6, 9 và 12, khiến đồng USD mạnh lên so với các đồng tiền khác, đồng Nhân dân tệ mất giá khoảng 5,34% so với đồng USD, tỷ giá VND/USD cũng biến động theo xu hướng tăng.

Nhu cầu du lịch tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán và các kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5 và 2/9, nên chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng trở lại, như: giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép…, nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2018 so cùng kỳ tăng 2,09%, chỉ số giá xuất khẩu tăng 0,44%; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 2,8%; chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 4,38%.

Bên cạnh những yếu tố gây tăng giá, trong năm 2018 cũng có những yếu tố kiềm chế CPI. Đó là, giá dịch vụ y tế điều chỉnh giảm theo Thông tư số 15/2018/TT/BYT, ngày 30/05/2018 của Bộ Y tế khiến cho chỉ số giá dịch vụ y tế tháng 07/2018 giảm 7,58%, góp phần giảm CPI chung 0,29%.

Các biện pháp điều hành, quản lý giá nhằm kiểm soát lạm phát 2018

Để có được những kết quả trên, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt công tác quản lý, điều hành giá nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 16/QĐ-BTC, ngày 04/01/2018 ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, ngày 01/01/2018 của Chính phủ; tổ chức triển khai chỉ đạo của Thủ tướng về tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn thị trường giá cả trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018.

 Với vai trò thường trực Ban Chỉ đạo điều hành giá, Bộ Tài chính cũng chủ động theo dõi, phối hợp với các bộ, ngành trong công tác điều hành giá, xây dựng kịch bản điều hành giá trong các giai đoạn ngắn hạn, cũng như trong cả năm 2018. Đồng thời, chú trọng công tác rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, đảm bảo xây dựng hành lang pháp lý về giá đồng bộ, có tính thực tiễn cao. Qua đó, đã phát hiện và kịp thời xử lý, chấn chỉnh hành vi vi phạm pháp luật về giá; giúp đơn vị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; phát hiện những vấn đề có khó khăn, vướng mắc trong khâu tổ chức thực hiện để kịp thời có biện pháp khắc phục, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

 Đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện việc điều hành giá xăng dầu trong nước. Đã sử dụng linh hoạt Quỹ bình ổn giá để hạn chế mức tăng giá các mặt hàng xăng dầu. Đồng thời, quán triệt nguyên tắc thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành giá xăng dầu, thường xuyên công khai chi tiết tình hình trích lập, sử dụng, lãi phát sinh và số dư Quỹ bình ổn giá của từng thương nhân kinh doanh xăng dầu đầu mối hàng quý trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính và Bộ Công Thương.

Đối với dịch vụ khám, chữa bệnh, Bộ Tài chính cũng phối hợp với Bộ Y tế tổ chức rà soát mức giá của các dịch vụ khám, chữa bệnh để có điều chỉnh kịp thời theo lộ trình. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai đã kịp thời nắm bắt một số vướng mắc phát sinh, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể báo cáo Thủ tướng tháo gỡ.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đã phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu đề xuất giải pháp cụ thể trong điều hành giá bán điện. Đối với các mặt hàng khác, như: khí LPG, thuốc và vật tư y tế, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, cước bưu chính, viễn thông, các dịch vụ vận tải đường bộ, hàng không, hàng hải, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ trong việc đôn đốc, phối hợp với địa phương theo dõi tình hình giá cả, chủ động trong công tác triển khai các biện pháp điều hành phù hợp, dự báo và xây dựng kịch bản điều hành giá cho từng mặt hàng kịp thời trong từng giai đoạn theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Về phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong năm qua đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô. Với phương thức điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm với 8 đồng tiền chủ chốt, nên giá đồng USD trong nước vẫn dao động trong biên độ ±3%. Giá vàng trong nước biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới, nhu cầu vàng trong nước tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán, ngày Thần Tài, nhưng không có tình trạng “sốt vàng” gây bất ổn kinh tế - xã hội.

Trong năm 2018, tỷ giá chịu áp lực chủ yếu từ hàng loạt yếu tố bất lợi từ thị trường quốc tế, như: đồng USD tăng giá trên thị trường quốc tế trước sự kỳ vọng về lộ trình tăng lãi suất của FED; căng thẳng thương mại toàn cầu diễn biến phức tạp, đồng Nhân dân tệ mất giá mạnh đã tác động mạnh đến tâm lý thị trường. Tuy nhiên, đến cuối năm 2018, tỷ giá tại Việt Nam vẫn duy trì xu hướng ổn định, dao động trong biên độ 3%.

Bên cạnh các yếu tố vĩ mô thuận lợi, Ngân hàng Nhà nước điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt, phù hợp với tình hình thị trường tài chính tiền tệ trong nước và quốc tế. Cùng với đó, phối hợp đồng bộ các biện pháp, công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết thanh khoản, lãi suất VND hợp lý, kiên định với chủ trương từng bước hạn chế tình trạng Đô la hóa, ổn định tâm lý thị trường.

Những tháng đầu năm, khi cung - cầu ngoại tệ khá thuận lợi, Ngân hàng Nhà nước còn tranh thủ mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước. Đặc biệt, từ ngày 07/02/2018, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu niêm yết tỷ giá mua kỳ hạn 3 tháng để trì hoãn việc đưa tiền đồng ra mua ngoại tệ, góp phần kiểm soát nguồn tiền cung ứng, hỗ trợ kiểm soát lạm phát, trong khi vẫn mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Từ tháng 06/2018, thị trường ngoại tệ chịu các áp lực từ diễn biến tiêu cực trên thế giới và tâm lý nhà đầu tư trong nước. Do đó, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời điều hành đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định thị trường, đảm bảo các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt.

Dự báo và những giải pháp kiểm soát lạm phát năm 2019

Dự báo năm 2019

Năm 2019, giá cả thị trường hàng hóa Việt Nam dự báo sẽ chịu tác động của nhiều yếu tố. Trong đó, đáng chú ý là dịch bệnh đối với vật nuôi luôn có nguy cơ xảy ra, gây ảnh hưởng tới nguồn cung và giá cả các mặt hàng thực phẩm. Thời tiết, khí hậu vẫn là yếu tố có khả năng ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nguồn cung nông sản trên thị trường. Một số yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá trong năm 2019 có thể kể đến như: tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đến 4.180.000 đồng/tháng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ ngày 01/01/2019; việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường như giá điện sẽ được điều chỉnh; biến động phức tạp của giá xăng dầu và các hàng hóa cơ bản khác trên thị trường thế giới; xu hướng tăng giá của đồng USD tác động đến tỷ giá trong nước.

Bên cạnh đó, giá dịch vụ công năm 2019 tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình tăng giá giai đoạn 2016-2020, nên được dự báo đóng góp vào lạm phát tổng thể và có thể tác động trễ tới diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong năm sau.

Tác động trễ của yếu tố tiền tệ đến lạm phát từ năm 2018 sang năm 2019 không lớn, do hệ số thâm dụng tín dụng trong năm 2018 ước đạt 2,07 lần, giảm so với mức năm 2017. Giá hàng hóa thế giới sẽ không gây áp lực nhiều lên lạm phát, do dự báo ít biến động trong năm 2019 và giá dầu được dự báo chỉ tăng 10% so với mức tăng 20% của năm 2018.

Dựa vào những nhân tố nêu trên, lạm phát dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, khoảng 4% năm 2019 và cả 2020. Căn cứ vào các yếu tố vĩ mô, tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế, các cơ quan chức năng: Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cũng đã đưa ra dự báo chỉ số CPI trong năm 2019 đều ở mức dưới 4%.

Một số giải pháp

Dù mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2018 đã thành công ở mức 3,54%, song chỉ số CPI bình quân năm 2019 sẽ chịu nhiều áp lực. Bởi, kiểm soát lạm phát trong bối cảnh tăng trưởng 6,6%-6,8% trên nền tăng trưởng cao của GDP năm 2019 là không hề dễ, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế trong nước còn khó khăn, nhiều động lực cho tăng trưởng đã tới hạn. Vì vậy, để thực hiện mục tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4% do Quốc hội đề ra trong năm nay, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ sau:

Thứ nhất, tăng cường năng lực, chủ động, phân tích, dự báo, theo dõi sát diễn biến tình hình kinh tế, tài chính, giá cả thế giới, trong nước để chủ động có đối sách phù hợp và kịp thời.

Bộ Tài chính cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Công tác quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát năm 2019 cần tiếp tục thực hiện một cách thận trọng, linh hoạt và chủ động. Tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu để kịp thời đề xuất các giải pháp đảm bảo cân đối cung - cầu nhằm bình ổn giá cả thị trường, nhất là trong thời điểm các dịp lễ, Tết hoặc các thời điểm xảy ra thiên tai, bão lũ. Kiểm soát chặt chẽ yếu tố hình thành giá đối với mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá; các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, hàng hóa, dịch vụ được mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước; hàng dự trữ quốc gia; hàng hóa, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công…, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định, không để điều chỉnh tăng giá bất hợp lý.

Đối với việc thực hiện lộ trình thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu, Bộ Tài chính cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp giúp kiểm soát mặt bằng giá chung, hạn chế tác động chi phí đẩy đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống của người dân. Điều chỉnh giá dịch vụ công cần theo lộ trình phù hợp, tránh gây ra những tác động bất lợi đến chỉ số giá tiêu dùng. Mặt khác, tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, đẩy nhanh việc hoàn thiện các định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá. Đẩy mạnh triển khai công tác tổng kết, đánh giá thi hành Luật Giá và các văn bản hướng dẫn để có cơ sở báo cáo Chính phủ, Quốc hội tiến hành sửa đổi Luật (nếu cần thiết). Tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá kết nối thông tin về giá giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương để cung cấp thông tin về giá chính xác, kịp thời cho công tác điều hành giá; tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về giá, nhất là đối với những hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu, hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục kê khai giá; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền về điều hành giá, công khai minh bạch thông tin về giá để kiểm soát lạm phát kỳ vọng; hạn chế những thông tin thất thiệt gây hoang mang cho người tiêu dùng gây bất ổn thị trường.

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý thu ngân sách nhà nước, thực hiện quyết liệt các giải pháp chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng thuế và triển khai hóa đơn điện tử. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển; tiếp tục cơ cấu lại đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kiểm soát các chỉ tiêu nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn theo Nghị quyết số 25/2016/QH14, ngày 09/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020; đẩy mạnh thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo công khai, minh bạch hoạt động và nâng cao chất lượng đầu tư, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; phát huy vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tập trung giải pháp để xử lý các dự án thua lỗ.

Thứ ba, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và yêu cầu quản lý; tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, tăng cường giám sát xử lý sở hữu chéo, đầu tư chéo giữa ngân hàng thương mại và doanh nghiệp để ngăn chặn tình trạng các cổ đông lớn, hoặc nhóm cổ đông lớn của các ngân hàng thương mại thao túng, chi phối hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng phục vụ lợi ích cho các cổ đông lớn, nhóm cổ đông lớn.

Ngoài ra, xây dựng thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản minh bạch và lành mạnh. Sớm hình thành các trung tâm tài chính tại các khu đô thị lớn. 

Thứ tư, kiểm soát tốt chất lượng hàng hóa, thiết bị nhập khẩu bằng các hàng rào kỹ thuật phù hợp; phấn đấu cân bằng cán cân thương mại bền vững. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ngoài ra, cần tập trung rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, nhất là đối với những ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao. Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin./.

PGS, TS. Ngô Trí Long
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 1/2019
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan