Cập nhật ngày 13/02/2021 - 08:15:33

           

Hội nhập kinh tế quốc tế từ CPTPP đến RCEP – Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam

Việc chủ động tham gia và đàm phán các FTA, đặc biệt là các FTA thế hệ mới, đã có tác động, ý nghĩa rất lớn, giúp Việt Nam thực hiện thành công chiến lược thị trường, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.

KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ ĐỊA – CHÍNH TRỊ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC THAM GIA VÀ THỰC HIỆN CÁC FTA

Thực hiện chủ trương của Đảng, Việt Nam đã tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trên tất cả các phương diện đa phương, khu vực và song phương. Trong thời gian qua, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia vào các thiết chế kinh tế đa phương và khu vực với các dấu mốc quan trọng như việc gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, WTO và ký kết 15 FTA ở cấp độ song phương và khu vực (trong đó đang thực thi 13 FTA), đã kết thúc đàm phán 1 FTA và đang đàm phán 2 FTA. Trong số các FTA này có 2 FTA thế hệ mới là CPTPP và EVFTA.

Việc kết thúc đàm phán và đưa vào thực thi hai FTA thế hệ mới này là kết quả của sự quyết tâm và nỗ lực rất lớn của Việt Nam. Với Hiệp định CPTPP, chúng ta đã trải qua 7 năm với hơn 40 vòng đàm phán để đi tới ký kết Hiệp định. Với Hiệp định EVFTA, tuy chỉ mất 3 năm đàm phán, nhưng từ khi Chính phủ hai nước đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định đến khi Hiệp định được chính thức đưa vào thực thi cũng mất tới 10 năm.

Có thể nói, để đi tới bước ký kết các Hiệp định này, chúng ta đã trải qua không ít khó khăn, một phần đến từ việc Hiệp định bao gồm cả những lĩnh vực phi truyền thống, lần đầu tiên chúng ta cam kết trong khuôn khổ 1 FTA, như: phát triển bền vững, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ… mà còn khó khăn vì phải làm sao để chúng ta mở cửa các lĩnh vực mới này một cách hợp lý cho phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam, tránh tạo ra những cú sốc đột ngột hay những tác động trái chiều đến nền kinh tế và doanh nghiệp trong nước.

Bên cạnh đó, khó khăn còn đến từ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa ta và đối tác đàm phán. Tuy nhiên, có thể nói, bằng sự quyết tâm và cách xử lý phù hợp, chúng ta đã vượt qua được những thử thách này để gặt hái “trái ngọt” là hai FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao và phạm vi cam kết rộng, giúp chúng ta mở rộng cánh cửa tiếp cận với thị trường với quy mô GDP chiếm 13,5% GDP toàn cầu cùng hơn 500 triệu dân (Hiệp định CPTPP) và thị trường EU (Hiệp định EVFTA) với quy mô GDP 18.000 tỷ USD.

Đặc biệt, việc Hiệp định RCEP được chính thức ký kết sau 8 năm đàm phán đã thể hiện vai trò gia tăng của ASEAN không chỉ trong việc thu hút các đối tác đến kinh doanh ở khu vực, mà còn có thể đứng ra điều phối và làm trung gian để tăng cường hợp tác trong khuôn khổ rộng hơn giữa các nước, trong đó có những nước có nền kinh tế lớn hơn của ASEAN. Hơn nữa, trước những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế cũng như đối với cuộc sống và sự an toàn của người dân, việc ký kết Hiệp định RCEP thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của các quốc gia thành viên Hiệp định RCEP trong việc hỗ trợ phục hồi kinh tế, phát triển toàn diện, tạo việc làm và tăng cường chuỗi cung ứng khu vực cũng như ủng hộ một thỏa thuận thương mại và đầu tư tự do, toàn diện, dựa trên luật lệ.

Đối với Việt Nam, Hiệp định RCEP không tập trung vào cam kết mới về mở cửa thị trường do ASEAN đều đã ký FTA với từng nước đối tác trong RCEP, mà về cơ bản là thỏa thuận mang tính kết nối hiệp định FTA trên thành một FTA mới với quy mô lớn hơn. Như vậy, một trong những lợi ích rõ rệt nhất mà Hiệp định đem lại là áp dụng 01 bộ quy tắc xuất xứ duy nhất, thay vì 05 bộ quy tắc xuất xứ riêng ở các FTA ASEAN+ trước đây cũng như những cam kết nhằm tăng cường tạo thuận lợi cho thương mại. Hiệp định RCEP sẽ tạo cơ hội để phát triển các chuỗi cung ứng mới trong khu vực mà doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia.

Ngoài ra, năm 2020 cũng là dịp kỷ niệm 25 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, trong đó, việc ký kết Hiệp định RCEP là một trong những thắng lợi của nước ta và cũng thể hiện định hướng của Việt Nam trong việc tiếp tục coi hội nhập ASEAN là một trong những ưu tiên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định tinh thần chủ động, góp phần tăng cường sự gắn kết chặt chẽ, phát huy tố chất của một khu vực kinh tế ASEAN năng động, khẳng định vai trò trung tâm trong hợp tác kinh tế ở khu vực.

Như vậy, có thể nhận định rằng, việc tham gia và thực hiện các FTA trong thời gian qua đã khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trên thế giới và trong khu vực.

Trong khu vực Đông Nam Á, với vai trò là Chủ tịch ASEAN 2020, Việt Nam đã thúc đẩy được các mục tiêu, ưu tiên, sáng kiến của ASEAN đề ra trong năm 2020, cũng như đạt được đồng thuận chung về việc ký kết Hiệp định RCEP trong bối cảnh tình hình thế giới và đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Thành công toàn diện của Năm Chủ tịch ASEAN 2020 một lần nữa đã khẳng định đường lối đối ngoại đa phương của Việt Nam.

Đặc biệt, việc chúng ta ký kết và đưa vào thực thi các FTA thế hệ mới, đó là: CPTPP và EVFTA là các kết quả hết sức quan trọng, đưa nước ta vào nhóm các nước đi đầu trong quá trình hội nhập kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Vào Năm chủ tịch APEC 2017, chúng ta đã điều phối để cùng các nước hình thành nên Hiệp định CPTPP là thông điệp ủng hộ các cơ chế hợp tác đa phương. Đây cũng là một khuôn khổ tăng cường sự đan xen lợi ích, làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước thành viên CPTPP, đặc biệt là các nước thành viên có quan hệ đối tác chiến lược với nước ta.

Bên cạnh đó, Hiệp định EVFTA là nhân tố được kỳ vọng giúp Việt Nam nâng tầm vị trí trong trật tự kinh tế quốc tế mới đang hình thành. Nếu tận dụng tốt các cơ hội, Việt Nam sẽ trở thành điểm đến cho các luồng đầu tư lớn đang dịch chuyển trên quy mô toàn cầu dưới tác động trực tiếp của đại đại dịch Covid-19. Với vị trí địa lý, Việt Nam có tiềm năng trở thành điểm trung chuyển, kết nối các hoạt động thương mại và đầu tư của EU tại khu vực ASEAN và các nước thành viên CPTPP.

Có thể thấy, Việt Nam đã và đang thể hiện sự tích cực trong hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế so với các nước có cùng trình độ phát triển trong khu vực. Việt Nam cùng Singapore là hai nước duy nhất trong khu vực cùng lúc tham gia hai FTA thế hệ mới. Với việc có quan hệ FTA với nhiều thị trường quan trọng như ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và gần đây nhất là EU, Việt Nam sẽ có một vị trí rất đặc biệt và các FTA này thực sự nâng cao vị thế của nước ta trong khối ASEAN, trong khu vực cũng như trên trường quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình chính trị - an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng và chủ nghĩa bảo hộ ngày càng leo thang.

CƠ HỘI SONG HÀNH CÙNG THÁCH THỨC

Về cơ hội

Việc tham gia các FTA đã tạo thêm động lực và mang lại nhiều tác động tích cực cho kinh tế Việt Nam, đặc biệt là thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và đa dạng hóa; thị trường dịch vụ, tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài với công nghệ hiện đại; hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được cải thiện theo hướng ngày càng minh bạch, dễ dự đoán và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Năm 2020, Việt Nam tiếp tục duy trì xuất siêu năm thứ 5 liên tiếp, với mức xuất siêu khoảng 19,1 tỷ USD với kim ngạch xuất - nhập khẩu đạt 543,9 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2019; kim ngạch nhập khẩu 2019 đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6% so với năm 2018.

Cùng với việc tham gia WTO từ năm 2007, việc thực thi các FTA đã góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng hơn 350% trong năm 2020 so với năm 2007.

Kết quả đạt được này là minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong tăng cường thực hiện và khai thác hiệu quả các FTA đã có hiệu lực hướng tới đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả.

Ngoài 11 FTA mà Việt Nam đang thực hiện trong vòng 20 năm trở lại đây, việc thực hiện 2 FTA thế hệ mới là CPTPP và EVFTA từ năm 2019 và tháng 8/2020 và sắp tới là Hiệp định RCEP sẽ dự kiến đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng toàn diện với khu vực. Theo tính toán, việc tham gia CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 1,7 tỷ USD, hơn 4 tỷ USD xuất khẩu, tăng tương ứng 1,32% và 4,04% đến năm 2035. Còn với EVFTA, trung bình mỗi năm Việt Nam sẽ tạo thêm khoảng 146.000 việc làm; GDP tăng thêm ở mức bình quân 7,07% đến 7,72% vào năm 2029-2033 và có thêm 0,8 triệu người thoát nghèo vào năm 2030. Với việc thực thi nhiều FTA, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng trong khu vực, hàng công nghiệp và đặc biệt sản phẩm có giá trị gia tăng cao sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu, nền sản xuất ngày càng được chuyên môn hoá, triển khai các ngành công nghiệp phụ trợ theo hướng bền vững. Thương mại dịch vụ dự kiến sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP.

Về tổng thể, việc thực thi các FTA sau 10 năm nữa dự kiến sẽ giúp Việt Nam tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đến năm 2045, dự kiến kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng vượt bậc so với hiện nay, khi đó, chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước vẫn cần được duy trì để bảo vệ và tiếp tục phát huy thành quả mà ta đã đạt được. Sau 10 và 25 năm nữa, với nền tảng hội nhập kinh tế hiện nay, tiếp tục chủ trương hội nhập đa phương sẽ giúp Việt Nam duy trì vai trò xác lập luật chơi trong khu vực, tập hợp lực lượng và ngày càng củng cố, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Những thách thức đặt ra

Tuy nhiên, việc tham gia các FTA nói riêng và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung cũng đặt ra không ít những thách thức. Đầu tiên là sự gia tăng áp lực cạnh tranh đối với hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam trên chính thị trường “sân nhà”, đặc biệt trong những lĩnh vực còn yếu của ta. Bên cạnh đó, hạn chế về trình độ nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp của nước ta cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Những bất cập, thiếu sót chưa kịp hoàn thiện của hệ thống pháp luật; chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa, đặc biệt là về minh bạch hóa, cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng gây không ít khó khăn cho việc thực thi cam kết và tận dụng các FTA của ta.

CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI KHÓ KHĂN, BẤT LỢI VÀ TẬN DỤNG CƠ HỘI MỚI

Việc ký kết và tham gia các FTA đồng nghĩa với việc hội nhập, bước vào sân chơi lớn, chấp nhận đương đầu với khó khăn, thách thức mới để vượt lên nắm bắt cơ hội phát triển. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 và diễn biến kinh tế - chính trị phức tạp trên thế giới và khu vực. Việc chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn gây khó khăn cho việc tiếp cận nguồn nguyên, vật liệu đầu vào, thu hẹp thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước và cản trở việc lưu thông hàng hóa, gây sụt giảm doanh thu cũng như đe dọa khả năng đứng vững của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ẩn sau những thách thức trên lại là những cơ hội đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp biết tự điều chỉnh chiến lược đầu tư kinh doanh, thích nghi, nắm bắt, tận dụng cơ hội trong bối cảnh Chính phủ và các cơ quan chức năng liên quan đang khẩn trương nghiên cứu và triển khai nhiều chính sách, giải pháp nhằm giúp phục hồi tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tạo động lực cơ cấu lại nền kinh tế, hướng tới đầu tư trong nước hiệu quả hơn và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để tranh thủ được xu hướng chuyển dịch đầu tư nước ngoài do đại dịch tạo ra và lợi ích từ việc thực thi các FTA mà Việt Nam ký kết.

Vì vậy, một trong những giải pháp ưu tiên doanh nghiệp cần chú trọng để đối phó với khó khăn, thách thức hiện tại và vượt lên tận dụng thành công các cơ hội mang lại là không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường năng lực cạnh tranh của mình, qua đó cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị khu vực. Do vậy, để hội nhập quốc tế thành công, tận dụng được những lợi ích mang lại và vượt qua thách thức đặt ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành Trung ương và địa phương với cộng đồng doanh nghiệp. Chính phủ cần có chiến lược tuyên truyền cụ thể để cộng đồng doanh nghiệp nắm vững các cam kết, luật chơi đối với từng FTA.

Bên cạnh các giải pháp đồng bộ từ Chính phủ, bộ, ngành và các địa phương, các doanh nghiệp, hiệp hội cần chủ động và tích cực tìm hiểu thông tin về các chính sách hỗ trợ hiện nay của Chính phủ, thông tin về các FTA mà Việt Nam ký kết tham gia để nắm vững cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác quan tâm, từ đó có chiến lược tận dụng tối đa các thị trường mới và cơ hội tiềm năng.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần chủ động thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, chuyển sức ép về cạnh tranh thành động lực để tự đổi mới và phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm để có lợi thế cạnh tranh không chỉ ở trong nước mà còn ở thị trường quốc tế. Bên cạnh khả năng thích ứng linh hoạt tùy theo nhu cầu biến đổi của thị trường, cộng đồng doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội để ứng dụng công nghệ kỹ thuật cũng như công nghệ thông tin trong tiếp cận, tiếp thị thị trường, giao dịch với các đối tác, tạo ra những giá trị thặng dư cao cho doanh nghiệp./.

Trần Tuấn Anh - Bộ trưởng Bộ Công Thương
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 4 năm 2021
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan