Cập nhật ngày 31/08/2018 - 15:17:31

           

Bộ Tài chính đề xuất, kéo dài thời gian giải ngân vốn ODA

- Cụ thể, đối với vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã được bố trí kế hoạch đầu tư công hàng năm và đã được Chính phủ Việt Nam nhận nợ, nhưng chưa giải ngân thì được kéo dài thời gian thực hiện và thanh toán đến hết 31/12 năm sau năm kế hoạch.

Góp ý cụ thể việc sửa đổi Nghị định 77/2015/NĐ-CP của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn, Bộ Tài chính đã đề xuất 2 vấn đề lớn.

Nhiều dự án sử dụng vốn ODA không những không hiệu quả mà còn làm thiếu hiệu quả, chậm hoàn thành và đội vốn nhiều lần

Nên kéo dài thời gian giải ngân vốn ODA đến hết 31/12 năm sau năm kế hoạch

Về quy định kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân nguồn vốn ODA hàng năm, hiện Luật Đầu tư công (Điều 76) quy định thời gian giải ngân kế hoạch đầu tư công hàng năm theo điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi ký kết với nhà tài trợ nước ngoài; phần vốn nước ngoài trong kế hoạch đầu tư công hàng năm được phép giải ngân theo tiến độ thực hiện và tiến độ cấp vốn của nhà tài trợ nước ngoài.

Theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước thì nguồn vốn ODA đều là nguồn vốn ngân sách nhà nước và tại Điều 46 Nghị định 77/2015/NĐ-CP của Chính phủ vẫn quy định đối với vốn ngân sách nhà nước được kéo dài đến 31/12 năm sau năm kế hoạch, vốn ODA thực hiện theo Điều 76 Luật Đầu tư công.

Tuy nhiên, trên thực tế giải ngân từ nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài có những đặc thù riêng. Ví dụ như dự án Đường Thạch Kim – Hiền Hòa vay vốn Quỹ Ả rập Xê út, ngày đơn rút vốn là 6/10/2016, ngày Nhà tài trợ thanh toán là ngày 13/1/2017, ngày gửi thông báo rút vốn cho Bộ Tài chính là ngày 20/4/2017. Hay như Dự án Thoát nước Buôn Ma Thuột, vốn vay Đan Mạch, đơn rút vốn gửi ngày 12/1/2017 (theo kế hoạch vốn năm 2017). Tuy nhiên, ngày 16/2/2017, Nhà tài trợ mới thông báo giải ngân (quá thời hạn ghi thu ghi chi của KBNN 31/1/2017), trong khi không được ghi sang kế hoạch vốn năm 2018. Hiện khoản rút vốn đang tạm treo chưa ghi thu ghi chi.

 

Vì vậy, Bộ Tài chính cho rằng, đối với vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã được bố trí kế hoạch đầu tư công hàng năm và đã được Chính phủ Việt Nam nhận nợ nhưng chưa giải ngân thì được kéo dài thời gian thực hiện và thanh toán đến hết 31/12 năm sau năm kế hoạch (thống nhất như đối với nguồn trong nước).

Đối với vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã được bố trí kế hoạch đầu tư công hàng năm, Chính phủ chưa nhận nợ và chưa giải ngân thì hủy bỏ dự toán.

Trường hợp tiếp tục nhận nợ và giải ngân vốn trong năm sau, thì trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho bổ sung dự toán đầu tư năm sau, theo nguyên tắc đảm bảo nằm trong tổng kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn vốn ngoài nước của giai đoạn đã được Quốc hội quyết định. Giải pháp này có thể dẫn tới số bội chi của năm hiện hành sẽ thấp hơn so với số Quốc hội quyết định và số bội chi của năm sau có thể cao hơn số Quốc hội quyết định.

Tuy nhiên, sẽ giải quyết được trường hợp dự án nhiều năm không giải ngân được nhưng vẫn phải chuyển nguồn hàng năm; đồng thời, vẫn đảm bảo bội chi của cả thời kỳ trong phạm vi Quốc hội cho phép.

Trước đó, vào cuối tháng 5/2018, Kiểm toán Nhà nước đã công bố báo cáo kết quả kiểm toán ngân sách, trong đó chỉ ra việc trần giải ngân ODA trung hạn đã bị vượt gần 37.000 tỷ đồng so với dự toán 300.000 tỷ đồng ban đầu.

Theo Kiểm toán Nhà nước, khả năng giải ngân của các dự án sử dụng vốn ngoài nước đã được giao kế hoạch trung hạn (không bao gồm khoản bổ sung để quyết toán cho các dự án sử dụng vốn ngoài nước từ năm 2016 trở về trước) có thể đạt 306.950 tỷ đồng, vượt 36.950 tỷ đồng so với hạn mức đã giao 270.000 tỷ đồng (đã trừ 10% dự phòng), vượt 6.950 tỷ đồng so với hạn mức vốn trung hạn Quốc hội đã thông qua 300.000 tỷ đồng.

Khoản này gồm 19 dự án đã ký hiệp định vay vốn nhưng chưa được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn với tổng vốn vay nước ngoài gần 2 tỷ USD, ước tính giải ngân đến năm 2020 đạt khoảng 19.400 tỷ đồng. Trong đó, vốn cấp phát từ ngân sách trung ương khoảng 17.600 tỷ đồng.

Ngoài ra, 44 dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư với tổng vốn vay nước ngoài khoảng 3,78 tỷ USD, ước giải ngân đến năm 2020 từ ngân sách trung ương khoảng 12.100 tỷ đồng.

Thêm vào đó, 36 dự án mới của các bộ, ngành, địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đề xuất dự án với tổng mức vốn nước ngoài gần 2,9 tỷ USD.

Ngoài ra, các dự án đã giải ngân từ năm 2016 trở về trước nhưng chưa được quyết toán là 14.034 tỷ đồng đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 49/2017/QH14 cho phép bổ sung vào kế hoạch trung hạn.

Các dự án đang thực hiện phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư cần được bổ sung dự toán khoảng 25.000 tỷ đồng, trong đó riêng dự án tuyến Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên tại TP. Hồ Chí MInh tăng khoảng 20.000 tỷ đồng.

 Cần quy định rõ về thẩm quyền, thời điểm, nguyên tắc tiêu chí ưu tiên sử dụng nguồn dự phòng

Về thẩm quyền quyết định sử dụng dự phòng 10% kế hoạch đầu tư công trung hạn tại các bộ, ngành, địa phương, tại khoản 6 Điều 54 Luật Đầu tư công quy định: Chính phủ quy định mức vốn dự phòng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn để xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn. Tại Nghị quyết số 26/2016/QH14 ngày 10/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 quy định mức dự phòng chung là 10% theo từng nguồn vốn; các bộ, ngành trung ương và địa phương dành 10% dự phòng trên tổng mức được phân bổ theo kế hoạch trung hạn theo từng nguồn vốn (điểm a, b, khoản 2 điều 2). Khoản vốn dự phòng chung phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trước khi thực hiện (khoản 3 điều 6). Theo khoản 2 điều 7 Nghị quyết 26/2016/QH14 thì trước khi giao chi tiết kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội danh mục dự án, mức vốn bố trí cụ thể cho từng dự án.

Như vậy, Luật Đầu tư công chỉ giao Chính phủ quy định mức dự phòng, đồng thời Luật Đầu tư công và Nghịquyết 26 Quốc hội không quy định rõ việc giao Chính phủ hướng dẫn quy định thẩm quyền quyết định, thời điểm, nguyên tắc tiêu chí sử dụng vốn dự phòng của các bộ, ngành, địa phương.

Thực tế, hiện nay kế hoạch trung hạn đã giao (90% kế hoạch đầu tư công trung hạn của từng bộ, ngành và địa phương) đã được Chính phủ báo cáo Quốc hội bao gồm danh mục dự án và mức vốn cụ thể. Trên thực tế trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 mới bố trí được một phần thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB). Hiện còn nhiều dự án chưa được thống kê báo cáo nợ đọng để bố trí (như: Dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng phân lũ, chậm lũ tỉnh Ninh Bình là 300 tỷ đồng; Dự án xây cải tại Quốc lộ 15 (đoạn nối TP. Hà Tĩnh - đường Hồ Chí Minh Phúc Đồng) là 124,5 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng công trình Đường 12B đoạn Km18-Km47+300, tỉnh Hòa Bình; Dự án nâng cấp khẩn cấp đê, kè Cồn Xanh thuộc tuyến đê biển huyện Nghĩa Hưng...) và thu hồi vốn ứng trước (tổng số vốn ứng trước của các bộ, ngành, địa phương là 85.667 tỷ nhưng mới thu hồi 53.873 tỷ, còn lại 31.794 tỷ chưa thu hồi).

Do đó, Bộ Tài chính kiến nghị dự thảo Nghị định trên cần quy định rõ về thẩm quyền, thời điểm, nguyên tắc tiêu chí ưu tiên sử dụng nguồn dự phòng và Chính phủ sẽ xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành Nghị định./.

Trí Dũng
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan