Cập nhật ngày 11/05/2018 - 22:57:00

           

Mới chỉ có 21% DNNVV của Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

- Thông tin này được công bố tại Hội thảo “Tham gia chuỗi giá trị cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức vào sáng 11/05 tại Hà Nội.

Thông qua việc tăng cường liên kết theo chuỗi, các doanh nghiệp có thể cùng nhau đảm nhận một khâu hoặc nhiều khâu trong chuỗi, từ đó hoàn thành tốt công việc với năng lực lớn hơn, giúp các doanh nghiệp khắc phục bất lợi về quy mô, phản ứng nhanh với thay đổi của thị trường, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

Phát biểu tại hội thảo, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, hiện các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo mô hình chuỗi chưa phát huy hết tiềm năng trong các khâu để tạo ra giá trị gia tăng cao nhất với chi phí thấp nhất. Đặc biệt sự liên kết giữa các doanh nghiệp còn chưa chặt chẽ.

Hiện tại, chỉ có 21% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia và chuỗi giá trị tăn cầu

Đáng chú ý, hiện, Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất một số mặt hàng công nghiệp có giá trị cao như điện thoại di động, smartphone, máy tính bảng. Năm 2017 kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện đạt 45,27 tỷ USD, tăng 32%, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 25,94 tỷ USD tăng 36,9% so với năm 2016.

Tuy nhiên, hiện Việt Nam chỉ có 21% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong khi ở Thái Lan là trên 30% và ở Malaysia là 46%. Do vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa ít được hưởng lợi từ hiệu ứng lan tỏa của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thông qua chuyển giao công nghệ, kiến thức và nâng cao năng suất.

Ba ví dụ điển hình là xe máy, dệt may và da giày. Cụ thể, đối với Việt Nam, xe máy đã trở thành nước sản xuất xe máy quy mô lớn với 3,2- 3,5 triệu chiếc/năm; 80% linh kiện, phụ tùng được sản xuất trong nước, nhưng phần lớn là do doanh nghiệp FDI thực hiện, doanh nghiệp trong nước mới sản xuất được ắc quy, phụ tùng bằng nhựa. Công ty Honda chiếm khoảng 60% sản lượng xe máy, có 110 doanh nghiệp công nghiệp hổ trợ, trong đó chỉ có 23 doanh nghiệp trong nước. Nguyên nhân chủ yếu là doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của Honda đối với nhà cung ứng về công nghệ, thời gian, nguồn nhân lực, nhất là người đứng đầu doanh nghiệp.

Ngành dệt may Việt Nam đã cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả cạnh tranh, là nhà xuất khẩu lớn thứ hai sau Trung Quốc tại thị trường Hoa Kỳ; tuy vậy đang đối mặt với cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, không chỉ Trung Quốc mà nhiều nước khác như Myanmar, Campuchia… làm gia tăng áp lực lên thị phần Việt Nam tại các thị trường lớn.

Cũng theo bà Thủy, nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI, trong giá trị xuất khẩu của Việt Nam có tới 71% sự đóng góp của các doanh nghiệp FDI. Vì vậy, dù các doanh nghiệp Việt Nam đã hình thành và tham gia vào một số chuỗi giá trị nhưng việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị còn rất hạn chế. Đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam vẫn thiếu vắng sự tham gia của công nghiệp phụ trợ. 

Bên cạnh đó, Việt Nam đã hình thành các khu công nghiệp – khu chế suất đã hình thành nhưng sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài các khu này còn lỏng lẻo, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cạnh tranh lẫn nhau, chưa có sự phối kết hợp. Bên cạnh đó, việc sản xuất và tiêu thụ bị phân mảnh thiếu liên kết, sự tham gia của Việt Nam ở những khâu có giá trị gia tăng cao, như: R&D, chế biến, phân phối (bán lẻ) và marketing vẫn chưa tham gia được, hoặc mức độ tham gia còn rất thấp. 

Một trong những nguyên nhân nữa là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có nền tài chính mỏng, công nghệ còn yếu, nguồn nhân lực về cơ bản còn bất cập. Việc tiếp cận vốn, tài trợ thương mại còn hạn chế do chưa có đủ nguồn lực tài chính để tham gia chuỗi cung ưng toàn cầu; thiếu lao động có kỹ năng. 

Để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tham gia chuỗi giá trị, theo GS. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), lãnh đạo doanh nghiệp phải tiếp cận với tư duy quản lý theo hướng hiện đại, coi trọng chất lượng và hiệu quả, xây dựng lòng tin với đối tác và gây dựng uy tín của doanh nghiệp.

"Chẳng hạn trong việc trả lương và thu nhập người lao động cần dựa trên hiệu quả sử dụng lao động, không thể kéo dài tình trạng nhân công giá rẻ, mà phải nâng cao thu nhập để tạo ra năng suất lao động cao hơn và chất lượng sản phẩm tốt hơn", GS. Nguyễn Mại gợi ý./.

Lê Giang
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan