Cập nhật ngày 19/09/2018 - 23:54:44

           

Bức tranh DN Việt Nam thực tế thế nào?

- Hiện có 10,1 nghìn DN lớn, chiếm tỷ lệ khiêm tốn với 1,9%; số DN nhỏ, vừa và siêu nhỏ là 507,86 nghìn DN, tăng 52,1% (tương đương 174 nghìn DN) so với thời điểm 01/01/2012, chiếm 98,1%.


DN có quy mô nhỏ và vừa tăng nhanh nhất về số lượng, nhưng doanh nghiệp FDI thu hút nhiều nhất về lao động

12,86 nghìn DN đã đăng ký nhưng chưa đi vào hoạt động

Cụ thể, theo ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017 cho thấy, số doanh nghiệp có đến thời điểm ngày 1/1/2017 là 517,9 nghìn DN, trong đó tổng số DN thực tế đang hoạt động điều tra được là 505,1 nghìn DN.

Trong số doanh nghiệp nói trên, có 10,1 nghìn DN lớn, tăng 29,6% (tăng gần 2,3 nghìn DN) so với thời điểm 01/01/2012 và chiếm tỷ lệ khiêm tốn với 1,9%; số doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ (gọi chung là doanh nghiệp vừa và nhỏ) là 507,86 nghìn DN, tăng 52,1% (tương đương 174 nghìn DN) so với thời điểm 01/01/2012, chiếm 98,1%.

Điều đáng lưu ý là có tới 12,86 nghìn DN đã đăng ký, nhưng đang đầu tư, chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Liên quan đến mục tiêu có 1 triệu DN trong năm 2020, ông Phạm Đình Thúy nhận định khó đạt được. Theo tính toán, đến nay Việt Nam có gần 518.000 DN, nếu tính đến 2020 còn 4 năm, bình quân có khoảng 120.000 nghìn DN/năm được thành lập mới thì mới có thể đạt mục tiêu (nhưng đó là chưa tính 12.000 DN giải thể, phá sản hàng năm).

Nếu tính cả số DN giải thể hàng năm thì mỗi năm phải có khoảng 130.000 DN thành lập mới. Hiện, bình quân Việt Nam có 120.000 DN/năm thành lập mới, với tốc độ này thì có thể mục tiêu sẽ không đạt được”, ông Thúy tính toán.

Tuy nhiên, nếu chúng ta có giải pháp đầy đủ, có hướng phát triển tốt, động viên các DN thành lập mới, khởi nghiệp thành công thì có thể đạt được mục tiêu.

"Việt Nam hiện có trên 5,14 triệu hộ kinh doanh cá thể, trong đó có khoảng 2,3% hộ có đủ điều kiện để phát triển thành DN. Do đó, mục tiêu 1 triệu DN vào năm 2020 có thể là một thách thức nhưng nếu quyết tâm vẫn làm được.", ông Phạm Đình Thúy nhấn mạnh.

Kết quả hoạt động của DN được cải thiện hơn 5 năm trước đây

Đánh giá bức tranh DN nói chung, ông Nguyễn Bích Lâm cho biết, DN có quy mô nhỏ và vừa tăng nhanh nhất về số lượng, nhưng doanh nghiệp FDI thu hút nhiều nhất về lao động; kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm 2016 của doanh nghiệp được cải thiện hơn 5 năm trước đây.

Kết quả điều tra cho thấy, mặc dù số lượng DNNN chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng số DN, chỉ với 0,5% nhưng nguồn vốn của khu vực DN này chiếm tới 28,4% tổng nguồn vốn của toàn bộ khu vực DN, cao hơn cả nguồn vốn của khu vực DN FDI (chiếm 18,1%), các DN ngoài nhà nước chiếm 53,5% tổng nguồn vốn, nhưng số lượng các DN thuộc loại hình này chiếm tới 96,7% tổng số DN.

Mặc dù nguồn vốn của khu vực DNNN chiếm tỷ trọng lớn song xét về cơ cấu lại chủ yếu là vốn vay, vốn chủ sở hữu của khu vực DN này so với tổng nguồn vốn chỉ chiếm 23,2% trong khi tỷ lệ này của khu vực DN ngoài nhà nước là 30,7% và của khu vực DN FDI là 39,6%.

Nguồn vốn bình quân trên một DN năm 2016 đạt 51,6 tỷ đồng/DN, tăng 5,8 tỷ đồng/DN so với năm 2011. Trong đó, nguồn vốn bình quân trên 1 DN của loại hình DNNN ở mức cao nhất với 3 nghìn tỷ đồng/DN, nhiều hơn 97,5 lần so với loại hình DN ngoài nhà nước và 8,3 lần so với DN FDI.

Nguồn vốn bình quân của 01 DNNN tăng cao nhất với khoảng 2 lần so với 2011, trong khi đó của DN ngoài nhà nước là 1,2 lần và của DN FDI là 1,3 lần.

Theo khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp và xây dựng có quy mô nguồn vốn bình quân trên 1 DN ở mức cao nhất, năm 2016 là 63,7 tỷ đồng/DN, cao hơn nhiều so với mức 49 tỷ đồng/DN của năm 2011.

Nguồn vốn bình quân trên 1 DN của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ở vị trí thứ 2 với 55,3 tỷ đồng/DN (năm 2011 là 41,8 tỷ đồng/DN), thấp nhất là khu vực dịch vụ với nguồn vốn bình quân 1 DN năm 2016 là 46,5 tỷ đồng tăng không nhiều so với năm 2011 (44,3 tỷ đồng/DN).

Doanh thu thuần của khu vực doanh nghiệp năm 2016 đạt 17.858 nghìn tỷ đồng, tăng 71,6% (7.450 tỷ đồng) so với năm 2011, doanh thu thuần bình quân năm giai đoạn 2011-2016 tăng 11,4% (tương đương 1.400 nghìn tỷ đồng).

Khu vực DN ngoài nhà nước có doanh thu thuần tăng 78,8% (tương đương 4.402 nghìn tỷ đồng) so với năm 2011 và chiếm tỷ trọng nhiều nhất với 55,9% tổng doanh thu thuần của toàn bộ khu vực DN. Doanh thu thuần bình quân năm giai đoạn 2011-2016 khu vực này đạt cao nhất với 880,5 nghìn tỷ đồng (tăng 12,3%).

Khu vực DN FDI có doanh thu thuần tăng mạnh nhất với 134,5% so với năm 2011, chiếm 27,4% tổng doanh thu thuần, doanh thu thuần bình quân năm đạt 560,7 nghìn tỷ đồng (tăng 18,6%), tuy nhiên lại thấp hơn khu vực DN ngoài nhà nước.

Tỷ trọng doanh thu thuần thấp nhất là khu vực DNNN chỉ chiếm 16,7%, doanh thu thuần của khu vực DN này tăng thấp nhất với 244 nghìn tỷ đồng (tăng 8,9%), doanh thu thuần bình quân năm tăng 1,7% (tương đương 48,8 nghìn tỷ đồng).

Hiệu suất sinh lời trên tài sản (tính bằng tổng lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản) năm 2016 đạt 2,7% (cao hơn mức 2,5% của năm 2011).

Khu vực doanh nghiệp FDI có hiệu suất sinh lời trên tài sản năm 2016 đạt cao nhất và vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác với 6,9% (cao hơn so mức 4,8% của năm 2011), tiếp đến là khu vực DNNN đạt 2,6% (thấp hơn mức 3,2% của năm 2011) và thấp nhất là khu vực DN ngoài nhà nước 1,4% (năm 2011 là 1,2%).

Xét theo khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp và xây dựng có hiệu suất sinh lời trên tài sản cao vượt trội so với hai khu vực còn lại với 4,8% (cao hơn mức 3,8% của năm 2011), hai khu vực còn lại là nông, lâm nghiệp và thủy sản và dịch vụ hiệu suất sinh lời trên tài sản đạt tương ứng là 2% và và 1,6%.

Hiệu suất sinh lời trên doanh thu (tính bằng tổng lợi nhuận trước thuế/tổng doanh thu) của toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2016 đạt 4% (cao hơn mức 3,2% của năm 2011).

 Doanh nghiệp FDI và DNNN là hai loại hình doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2016 đạt khá cao với 6,7% và 6,6% (năm 2011 là 5,2% và 5,1%), các doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ suất sinh lời trên doanh thu đạt thấp nhất với 1,9% (năm 2011 là 1,5%).

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có hiệu suất sinh lời trên doanh thu đạt cao nhất với 5,3%, thấp hơn nhiều so với năm 2011 (20%) do trong năm 2011 sản phẩm mủ cao su có giá trị và lợi nhuận cao vượt trội; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 4,9% (cao hơn mức 3,8% của năm 2011); thấp nhất là khu vực dịch vụ với 3% (cao hơn mức 2,5% của năm 2011)./.

Trí Dũng
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan