Cập nhật ngày 23/04/2019 - 11:12:40

           

Mất bao thời gian để được cấp đăng ký ký hợp tác xã?

- Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ký ban hành Thông tư số 07/2019/TT/BKHĐT, ngày 08/04/2019 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT về hướng dẫn đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã.

Theo Thông tư số 07, trong 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký hơp tác xã cấp đăng ký hợp tác xã. Trong trường hợp không đủ điều kiện cấp đăng ký hợp tác xã theo quy định, cơ quan đăng ký hợp tác xã phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hợp tác xã hoặc hợp tác xã trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. Cơ quan đăng ký hợp tác xã ghi toàn bộ yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hợp tác xã đối với mỗi bộ hồ sơ do hợp tác xã nộp trong 1 Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hợp tác xã.

Được cấp đăng ký hợp tác xã trong vòng 3 ngày làm việc khi có hồ sơ hợp lệ

Nếu quá thời gian trên mà không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã hoặc không được thay đổi nội dung đăng ký hợp tác xã trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký hợp tác xã  hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hợp tác xã, thì hợp tác xã có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Thông tư số 07 cũng nêu rõ, khi hồ sơ đăng ký hợp tác xã đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã theo quy định, thông tin về hợp tác xã được chuyển sang cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính).

Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin từ Hệ thông thông tin quốc gia về đăng ký hợp tác xã, Tổng cục Thuế có trách nhiệm tạo mã số hợp tác xã và chuyển mã số hợp tác xã sang Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký hợp tác xã để cơ quan đăng ký hợp tác xã cấp cho hợp tác xã. Thông tin về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã sẽ được chuyển sang cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế.

Trong trường hợp Tổng cục Thuế từ chối cấp mã số hợp tác xã thì phải gửi thông tin sang Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký hợp tác xã, trong đó nêu rõ lý do từ chối để cơ quan đăng ký hợp tác xã thông báo cho hợp tác xã.

Đối với những hợp tác xã đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã trước khi Thông tư này có hiệu lực không bắt buộc phải thực hiện thủ tục sang Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã theo quy định tại Thông tư này. Hợp tác xã sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã  theo quy định tại Thông tư này khi đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hợp tác xã.

Trường hợp hợp tác xã có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã được cấp trước khi Thông tư này có hiệu lực sang Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã theo quy định tại Thông tư này, nhưng không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thế, hợp tác xã nộp giấy đề nghị kèm theo bản chính Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã hoặc bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp trước đây và bản chính Giấy chứng  nhận đăng ký thuế tại cơ quan đăng ký hợp tác xã  để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã.

Ngoài các nội dung sửa đổi trên, Thông tư số 07 cũng sửa đổi một số nội dung liên quan đến ngành nghề kinh doanh, tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký hợp tác xã, quy trình phối hợp tạo và cấp mã số hợp tác xã, đăng ký hợp tác xã qua mạng điện tử...

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 29/05/2019./.

Anh Quyền
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan