Cập nhật ngày 31/07/2015 - 17:28:28

           

Tinh tế hương Trà

- Cách trung tâm thành phố Đà Lạt 22km về hướng Đông Nam, có một vùng trà nổi tiếng được trồng từ năm 1927 do Công ty cổ phần Trà cổ Cầu Đất - Đà Lạt đầu tư khai thác đến nay, với tên gọi ban đầu là Sở Trà Cầu Đất, Xuân Trường “L’Arbre Broyé”.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và qua nhiều đời giám đốc do người Pháp tổ chức gieo trồng, thu hoạch và quản lý từ lúc mới thành lập, cho đến nay hương vị “chát chát và ngòn ngọt” đặc trưng của những cây trà cổ Cầu Đất trên 80 tuổi càng thêm đậm đà và thanh khiết. 

Khác hoàn toàn so với dòng trà xanh nguyên thuỷ của vùng Phìn Hồ, Đồng Văn, Suối Giàng, Tà Sùa, Tân Cương… hay trà hoa cúc, hoa sen, hoa mộc, hoa nhài, hoa bưởi của vùng B’Lao; trà Cầu Đất vẫn giữ được hương vị rất riêng, vị ngon ngọt tự nhiên của trà trồng trên vùng đất trà cổ sương mù bao phủ. Nếu như thành phố Bảo Lộc được coi là “thủ phủ” của trà Lâm Đồng thì Cầu Đất lại được coi là “cội nguồn” của trà, nơi khởi nguồn cây trà đầu tiên ở Lâm Đồng. Nếu ai sành uống trà thì mới cảm nhận được sự khác biệt tinh tế của trà Cầu Đất so với trà của nhiều vùng, miền khác, nhất là trà Ô Long hiện nay đang cho năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế rất cao.

Ở độ cao 1.600m, lượng mưa ít, mùa khô kéo dài, nhiệt độ thấp chỉ từ 16-19 độ C vào ban đêm, và 20-22 độ C vào ban ngày, quanh năm sương mù bao phủ đã ưu đãi cho cây trà ở Cầu Đất có những tố chất vượt trội với hàm lượng chất kết tinh trong lá trà cao, hương vị đậm đà, thơm ngon hơn hẳn nơi khác.

Nếu vùng trà B’Lao (Bảo Lộc, Lâm Đồng) nhộn nhịp phố phường với rất nhiều danh trà, thì ở Cầu Đất, nơi cây trà đã cắm rễ hàng trăm năm nay, vẫn trầm lắng với vùng nguyên liệu đặc trưng cao nguyên. Nhà máy chè Cầu Đất (ở thôn Trường Thọ, xã Trạm Hành) nay thu hẹp lại như một xưởng sản xuất, không ồn ào náo nhiệt, chỉ có những công nhân đang lặng lẽ làm việc, những chuyến xe chở trà vào ra… Chị Nguyễn Ngọc Bích, Giám đốc công ty giản dị với áo bà ba, nón lá cùng làm với công nhân. Nơi tiếp khách cũng chỉ là một căn phòng nhỏ, một bộ bàn ghế, các mẫu trà và ly tách uống nước. Chị Bích rót trà mời chúng tôi. Đúng là thưởng thức, đưa ly trà lên, nhìn màu nước, hà hít hương thơm và trầm ngâm cảm nhận vị ngọt đọng lại… Nói chuyện văn hóa trà tao nhã, tinh túy, rồi chị giới thiệu về quy trình làm trà, chào hàng, bán hàng: Các anh chị thấy đấy, mình uống còn phải nhìn nước trà trong, xanh, cảm nhận hương vị. Trà xuất khẩu còn qua nhiều khâu kiểm nghiệm hơn nữa. Lần đầu, mình gửi cho họ mẫu nhỏ khoảng 300gam, họ kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tính chất hóa lý, tạp chất; kiểm tra lần 1, lần 2, bảo đảm rồi mình mới gửi lô hàng, lại kiểm nghiệm, nếu không đúng như mẫu thì họ trả về. Một “công” (container) đơn 9,8 tấn, “công” đôi 19 tấn, nếu làm ẩu họ trả về là chết, sạt nghiệp. Để đạt tiêu chuẩn, phải “sạch” phải từ khâu đầu đến khâu cuối, từ khâu chăm bón đến khâu chế biến trong nhà máy. Hiện công ty có hơn 120ha trà, trong đó có 30ha trà Ô Long. Hiện giờ Ô Long đang là sản phẩm chính của nhà máy, được xuất đi Đức, Đài Loan, Apganixtan…   

Theo như chị thì cách chăm sóc trà Ô Long kỹ như  “chăm em bé ”; cách hái trà cũng rất riêng, người hái kẹp mảnh dao lam vào kẽ tay và cắt ngọt búp trà để cho cây đỡ “đau”… Trà Ô Long có tiếng lâu nay. Với khoảng 120ha, mỗi năm công ty sản xuất được trên 100 tấn trà thành phẩm. 80% số này xuất đi nước ngoài. Ngoài số công nhân lao động thường xuyên, công ty còn ký hợp đồng với nông dân, bao tiêu sản phẩm trà búp tươi của nông dân với giá 45.000đ/kg Ôlong, 27.000đ/kg như Kim Tuyên, Tứ Quý, Thúy Ngọc… Nông dân làm trà cũng rất chuyên nghiệp, có kỹ thuật, ý thức rõ việc phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu chất lượng, vì đây chính là “nồi cơm” của mình, không thể làm ẩu được.  

Những người công nhân, nông dân ở đây tự hào về thương hiệu trà Cầu Đất đã gần thế kỷ. Từ năm 1927, người Pháp đã đưa cây trà đến đây và lập Sở trà Cầu Đất. Một vùng trà rộng lớn 600ha với cả ngàn công nhân. Cho đến giờ vẫn là nghề “gia truyền” của nhiều nhà, có nhà đến mấy đời làm trà. Sau trà xanh, trà đen, bây giờ các đơn vị phát triển giống trà Ô Long để đáp ứng thị trường xuất khẩu… Mọi người nói về trà như cái nghiệp của mình, gắn bó, sống chết cùng nhau. Ai cũng nghĩ phải giữ gìn và nâng cao giá trị thương hiệu trà Cầu Đất.

Anh Nguyễn Hữu Phước (Đội trưởng Đội sản xuất số 2, Công ty CP Chè Cầu Đất) cho biết: chè Cầu Đất khi pha nước rất xanh, trong, vị ngon tự nhiên, nếu thưởng thức kỹ sẽ thấy mùi thơm của hoa và trái cây hoà quyện trong hương thơm của trà. Đấy là nét đặc biệt mà trà Cầu Đất được trời ban cho, người dân quê tôi đi xa mấy chục năm vẫn quay trở về uống trà Cầu Đất, mua trà Cầu Đất, có lẽ do bén rễ nên ghiền cái hương vị đặc trưng ấy mất rồi.

 

 Với quy mô trên 230ha chè chất lượng cao đã tạo nên vùng nguyện liệu tốt nhất phục vụ cho sản xuất chè đen OTD nổi tiếng, chè Ô Long cao cấp, chè xanh viên và chè xanh đặc sản Cầu Đất, đã cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước từ 350 đến 400 tấn sản phẩm mỗi năm. Ngoài ra, Công ty còn kinh doanh chế biến và xuất khẩu các loại nông, lâm, thổ sản khác như: cà phê, rau, hoa, quả,... các dịch vụ du lịch sinh thái, tham quan dã ngoại, dịch vụ lưu trú. Đặc biệt sản xuất kinh doanh rượu vang. Sản phẩm của Công ty được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm. “Đặc sản chè xanh Cầu Đất” được tặng huy chương vàng hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp Việt Nam 2003, giải thưởng Sao vàng Đất Việt 2003.

Nhật Trường – Lê Hồng
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan