Đừng quá lo ngại về số doanh nghiệp giải thể, phá sản!

Cập nhật ngày 26/01/2018 - 16:43:38

           

Đừng quá lo ngại về số doanh nghiệp giải thể, phá sản!

- Trong một nền kinh tế, thì doanh nghiệp đăng ký ra, vào thị trường là điều hoàn toàn bình thường.

Đây là nhận định của ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong một cuộc trao đổi ngắn với phóng viên Tạp chí Kinh tế và Dự báo.

 


Ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

 

PV: Thưa ông, năm 2017 số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt mức kỷ lục với trên 126 nghìn doanh nghiệp. Ông có đánh giá thế nào về ý nghĩa của con số này?

Ông Nguyễn Hoa Cương: Việc số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng cao, chứng tỏ nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; sự cam kết, sự chỉ đạo xuyên suốt và thống nhất từ những người cao nhất của Chính phủ, đến sự tham gia của tất cả các cơ quan, như: các bộ ngành, địa phương; hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp đã có những đóng góp, tác động rất tích cực, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và người dân tham gia sản xuất, kinh doanh. Trong số các doanh nghiệp thành lập mới này, tuyệt đại đa số là các doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, đây không hoàn toàn là doanh nghiệp thành lập bởi những người mới tham gia vào thị trường, mà các chủ doanh nghiệp có thể là những người có kinh nghiệm trong những lĩnh vực khác nhau, thành lập doanh nghiệp mới, một thực thể kinh doanh mới để tận dụng cơ hội kinh doanh hiện tại của thị trường.

PV: Bức tranh doanh nghiệp 2017 vẫn cho thấy những gam màu tối đó là số doanh nghiệp giải thể, phá sản vẫn cao. Điều này có lo ngại không thưa ông?

Ông Nguyễn Hoa Cương: Tôi cho rằng, về số doanh nghiệp giải thể, phá sản cần nhìn toàn cảnh. Bởi, hiện nay, tình hình báo cáo, số liệu thống kê về doanh nghiệp hiện nay đã sát với thực tế hơn, nên việc cao so với trước kia là điều có thể giải thích được. Thêm vào đó, trong một nền kinh tế, thì doanh nghiệp đăng ký ra vào thị trường là điều hoàn toàn bình thường. Nếu so sánh với các nền kinh tế khác, thì tỷ lệ này ở Việt Nam không phải là cao, thậm chí là thấp hơn khá nhiều. Ở các nền kinh tế OECD thông thường sau 2-3 năm thành lập, thì khoảng 30% số doanh nghiệp giải thể, sau 4-5 năm khoảng 50%-70% và sau 7-8 năm thì còn lại rất ít. Tuy nhiên, số doanh nghiệp còn lại rất ít này là những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh rất cao, phát huy tốt vai trò của mình trong thị trường. Còn số doanh nghiệp giải thể, phá sản lúc trước hoàn toàn có thể quay lại thị trường và đem kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được để hoạt động trong thị trường với một tâm thế mới, một năng lượng mới, vị thế mới.

Bên cạnh đó, nếu so sánh giữa số doanh nghiệp thành lập mới và giải thể, phá sản, thì có thể nhận thấy khoảng cách này là tương đối lớn. Điều này cho thấy, người dân và doanh nghiệp vẫn thấy được thị trường đang có nhiều cơ hội, nên đã quyết đinh đầu tư thêm vào sản xuất, kinh doanh. Đây là tín hiệu tốt. Trong khi ở Nhật vài năm gần đây số doanh nghiệp thực tế giảm, tức là số doanh nghiệp giải thể lớn hơn so với thành lập mới, không còn dư địa để phát triển doanh nghiệp mới nữa, thì Việt Nam vẫn còn trong đà phát triển và số doanh nghiệp mới tăng lên là một minh chứng.

PV: Nhưng thưa ông, trong các nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp giải thể phá sản, thì không thể phủ nhận được nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh, gây ra các rào cản cho doanh nghiệp?

Ông Nguyễn Hoa Cương: Lại phải nói rằng, giải thể phá sản là một tình trạng không ai muốn, nhưng nó là thực tế của thị trường. Trong một nền kinh tế bất kỳ, không thể nào tất cả các doanh nghiệp đều làm ăn có lãi. Bởi vậy, nếu doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt, thì họ sẽ tồn tại được, còn những doanh nghiệp có năng lực bình thường hoặc yếu, thì kể cả có môi trường kinh doanh tốt, thì doanh nghiệp cũng có thể giải thể, phá sản.

Ngoài ra thì còn những cái khó khăn khác, mà tất cả các bên phải cũng cố gắng, nỗ lực để tìm cách giải quyết. Khi đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 35 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp đến năm 2020, báo cáo cũng chỉ ra những điểm mà cần Chính phủ và các bộ ngành cần nỗ lực hơn, giúp đỡ doanh nghiệp một cách thực chất hơn, giảm chi phí cho doanh nghiệp, cũng như giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tốt hơn.

PV: Năm nay, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã chính thức có hiệu lực, ông đánh giá thế nào về tác động của Luật này trong việc thúc đẩy phong trào khởi nghiệp của cả nước.

Ông Nguyễn Hoa Cương: Tôi cho rằng, sự ra đời của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa to lớn trong việc khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của cả nước. Trước hết doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là 1 trong 3 đối tượng được hỗ trợ trọng tâm của Luật. Trước đây, các doanh nghiệp khởi nghiệp dường như chỉ được hỗ trợ theo phong trào, theo một số chương trình, dự án, một số sáng kiến của các tổ chức tư nhân và nhà nước… thì đến nay đã được đưa vào là đối tượng hỗ trợ chính của Luật, rõ ràng vai trò và vị thế của các doanh nghiệp khởi nghiệp đã khác so với trước kia. Ngoài ra, Luật cũng có tác động lan tỏa rất nhiều trong việc là nguồn tham chiếu đến các văn bản pháp luật khác, như: năm 2017, Bộ Tư pháp đã có chương trình hỗ trợ liên ngành về tình hình thực hiện pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Sự tham gia của Bộ Tư pháp và các cơ quan khác cho thấy, doanh nghiệp khởi nghiệp đã chính thức được nhìn nhận là một đối tượng ưu tiên cần hỗ trợ trong chương trình công tác của nhiều bộ, ngành địa phương… Không chỉ thế, các chương trình, đề án của Luật dự kiến được triển khai trong năm nay và các năm sau sẽ đem lại những thay đổi và tác động cụ thể, chuyên biệt và trọng tâm hơn tới các doanh nghiệp khởi nghiệp.

PV: Trong năm 2018, ông có lời khuyên gì cho các doanh nghiệp hay không?

Ông Nguyễn Hoa Cương: Doanh nghiệp ở Việt Nam và các nước khác trên thế giới không thể nào chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Chính phủ, bởi không có Chính phủ nào đủ ngân sách, đủ con người để thực hiện các hỗ trợ này. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phát huy được tốt nhất nguồn lực nội tại và các nguồn lực trên thị trường, trong đó lưu ý vai trò của khoa học công nghệ, vai trò của liên kết doanh nghiệp... để tận dụng tốt nhất các cơ hội thị trường mang lại, từ đó đem lại lợi ích cho chính bản thân doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế./.

Xin cảm ơn ông!

Kim Hiền (thực hiện)
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan