Cập nhật ngày 24/05/2017 - 22:26:39

           

CEO Green Herbs đề xuất giải pháp giảm lãi suất

- Câu chuyện lãi suất cao khiến chi phí doanh nghiệp tăng cao vẫn đang rất nóng, dù Chính phủ đã sử dụng nhiều cách để “hạ nhiệt” lãi suất.

Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia, CEO các doanh nghiệp cũng đã đưa những nhận định và đề xuất các giải pháp “hạ nhiệt” lãi suất, giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững.

Tạp chí Kinh tế và Dự báo xin giới thiệu bài viết của CEO Đặng Đức Thành - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Thảo Dược Xanh (Green Herbs); Ủy viên Ban chấp hành Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam  (VCCI) về việc làm sao để hạ lãi suất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Lãi suất cho doanh nghiệp vay cao so với khu vực và thế giới làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam

Hội nhập quốc tế sâu rộng đang tạo ra những cơ hội thuận lợi chưa từng có cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt doanh nghiệp trong nước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt và ở nhiều khía cạnh là chưa cân sức. Chưa cân sức về vốn, quy mô, nguồn nhân lực cao, về công nghệ tiên tiến, về quản trị doanh nghiệp hiện đại... Chưa cân sức giữa những doanh nghiệp khổng lồ quốc tế đã có thâm niên vài chục, thậm chí vài trăm năm và doanh nghiệp Việt Nam đa số còn nhỏ và vừa và cũng đa phần mới thành lập từ 2007 tới nay...

Trong những yếu tố làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trước hết phải kể tới việc lãi suất cho doanh nghiệp vay cao so với khu vực và thế giới.

Thống kê cho thấy năm 2016, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt nam vay ngân hàng xoay quanh lãi suất 9%/năm. Trong khi đó, doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc) vay với lãi suất 2%/năm, lãi suất của doanh nghiệp Nhật Bản xoay quanh 1%/năm...

Điều quan trọng nhất hiện nay là cần phải đưa lãi suất cho doanh nghiệp Việt Nam vay trở về mức ngang bằng với khu vực và thế giới. Để làm được điều này, hệ thống ngân hàng sẽ phải xem lại và trả lời hàng loạt câu hỏi, như vì sao ngân hàng các nước trong khu vực phát triển tốt với lãi suất cho doanh nghiệp vay thấp, nhờ nguồn thu từ đâu, liệu có phải từ dịch vụ, từ đổi mới khoa học công nghệ ngân hàng...

Để có thể giảm được lãi suất cho vay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cần điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung ưu tiên cho sản xuất kinh doanh, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao..., giảm bớt tín dụng cho khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Muốn điều chỉnh cơ cấu tín dụng, ngân hàng phải thay đổi căn bản cách thức cho vay. Tiến hành cho vay chủ yếu theo quản lý dòng tiền, hình thức thế chấp chỉ xem là phụ.

+ Quan sát nhiều ngân hàng quốc tế thành lập ở Việt Nam: HSBC, ANZ, Standacharterbank, ... nguồn thu của các ngân hàng này chiếm phần lớn từ cho vay lĩnh vực tiêu dùng; dịch vụ Master Card, Visa Card... phần cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít.

+ Cách thức kinh doanh của ngành ngân hàng Việt Nam cũng cần phải thay đổi, gia tăng khoa học công nghệ, đi sâu máng dịch vụ, lĩnh vực tiêu dùng; hiện nay máng kinh doanh này đang bị các công ty tài chính quốc tế, như: Home Credit (cho vay tín dụng tiêu dùng)... ; các ngân hàng Quốc tế... ở Việt Nam tăng thị phần lên rất cao; lấn áp ngân hàng Thương mại nhờ thái độ trân trọng khách hàng; nhờ khoa học công nghệ, quản trị hiện đại, tiên tiến.

Để có thể giảm được lãi suất cho doanh nghiệp vay bằng với khu vực và thế giới, bên cạnh sự cải cách quyết liệt của hệ thống ngân hàng: cải cách phương thức cho vay; cải cách phương thức kinh doanh (nếu chỉ hệ thống ngân hàng không đủ để giảm lãi suất); Chính phủ cần giao trách nhiệm cho Bộ Tài chính và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cần tập trung phát triển nhanh thị trường chứng khoán. Bởi, đây chính là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam.

Hiện nay, theo số liệu báo cáo của UBCK nhà nước; Tổng vốn huy động qua thị trường chứng khoán đến ngày 31/12/2016 đạt 2 triệu tỷ đồng; trong đó cổ phiếu chiếm 50%, trái phiếu chiếm 50% (84% là trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương, 165 là trái phiếu doanh nghiệp).

Từ các số liệu nghiên cứu cho thấy, nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng chiếm tỷ trọng xoay quanh 60% cung ứng vốn cho xã hội; sử dụng vốn từ thị trường chứng khoán chiếm tỷ trọng trên 30%. Do đó, áp lực vay ngân hàng của doanh nghiệp rất cao.

Tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tính đến 31/03/2017 là : 2.219.712 triệu đồng. Trong khi tại các nước tiên tiến, nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng chỉ cung ứng vốn cho xã hội khoảng 30%, nguồn vốn từ thị trường chứng khoán trên 60% cung ứng vốn cho xã hội (trong đó, phần lớn doanh nghiệp hoạt động sử dụng nguồn vốn này); khi doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn từ thị trường chứng khoán chi phí rất thấp, lại không bị áp lực trả nợ.

Để có thể phát triển mạnh mẽ thị trường chứng khoán Việt Nam; ngoài sự nỗ lực của nhà nước và ngành chức năng ; một nhân tố hết sức quan trọng là Doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi cách thức quản trị doanh nghiệp; từ việc đa phần quản trị Công ty theo hình thức nội bộ, gia đình cần cấp bách chuyển sang quản trị doanh nghiệp hiện đại, tiên tiến.

Nhìn nhận vấn đề quan trọng này, tại báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2016 của VCCI đã chọn chủ đề năm là “Quản trị Công ty”.

Hướng đến Quản trị doanh nghiệp hiện đại, tiên tiến, phù hợp chuẩn mực thông lệ quốc tế.

Thực tế đã chứng minh tại nhiều đơn vị thành công của Việt Nam phát triển bền vững các năm qua, trong số đó: VNM, FPT, TĐH, DHG, Kinh Đô, DRH, SSI..., việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích và cơ hội, tiến đến niêm yết sớm trên thị trường chứng khoán, sử dụng vốn huy động trên thị trường chứng khoán thay cho sử dụng vốn từ hệ thống ngân hàng chi phí cao và áp lực trả nợ lớn.

Thực hành quản trị công ty tốt là nhân tố hết sức quan trọng trong cạnh tranh quốc tế, tạo niềm tin cho các cổ đông, nâng cao khả năng huy động vốn từ thị trường.

Tính đến ngày 15/12/2016 số lượng công ty đại chúng là 1.829 đơn vị, trong đó có 319 công ty niêm yết (CTNY) trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) ; 374 CTNY trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX); 391 công ty đăng ký trên hệ thống giao dịch chứng khoán của các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCOM) và 745 công ty chưa niêm yết ĐKKD. Như vậy, số tỷ lệ công ty niêm yết ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Con số này quá ít ỏi.

Từ toàn bộ phân tích trên đây, bên cạnh sự cần thiết cải cách hoạt động kinh doanh ngân hàng cho thấy sự cấp bách phải phát triển mạnh mẽ thị trường chứng khoán Việt Nam.

Khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại, tiên tiến, cần công khai, minh bạch thông tin; niêm yết sớm trên thị trường chứng khoán Việt Nam; khuyến khích doanh nghiệp sử dụng vốn huy động từ thị trường chứng khoán, thay vì nguồn vốn từ vay hệ thống ngân hàng chi phí rất cao.

Chỉ khi áp lực nhu cầu vốn của doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng giảm lập tức, việc giảm lãi suất ngân hàng sẽ đồng bộ giảm theo một cách dễ dàng./.

CEO Đặng Đức Thành
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan