Chiến lược “sản xuất nhằm xuất khẩu” là động lực tăng trưởng của ASEAN+3

Cập nhật ngày 25/05/2018 - 22:11:28

           

Chiến lược “sản xuất nhằm xuất khẩu” là động lực tăng trưởng của ASEAN+3

- Chiến lược này giúp các nền kinh tế ASEAN+3 hưởng lợi từ hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hướng đến xuất khẩu để phát triển năng lực sản xuất.

Nội dung trên được các diễn giả nhấn mạnh tại Hội thảo “Triển vọng Kinh tế khu vực ASEAN+3: Tăng trưởng bền vững trong một thế giới đang biến chuyển” do Bộ Tài chính phối hợp với Cơ quan Nghiên cứu vĩ mô các nước ASEAN+3 (AMRO) tổ chức vào chiều nay (25/5) tại Hà Nội.

ASEAN+3 sẽ tăng trưởng 5,4% trong năm 2018

Tại Hội thảo, ông Hoe Ee Khor, chuyên gia kinh tế trưởng của AMRO đã trình bày những kết quả chính của Báo cáo Triển vọng Kinh tế khu vực ASEAN+3 2018  do AMRO thực hiện. Theo đó, tăng trưởng kinh tế khu vực ASEAN+3 gồm 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc (bao gồm Hồng Kông), Nhật Bản, Hàn Quốc được củng cố với sự hỗ trợ của cầu nội địa và tăng trưởng xuất khẩu trong bối cảnh lạm phát ổn định.

Chuyên gia Kinh tế trưởng của AMRO cho biết, phần lớn các nền kinh tế trong khu vực đang trong chu kỳ kinh tế mở rộng, cầu bên ngoài cải thiện giúp tăng trưởng kinh tế khu vực dự kiến sẽ duy trì ở mức trên 5%. AMRO dự báo, kinh tế khu vực ASEAN+3 sẽ tăng trưởng 5,4% trong năm 2018 và 5,2% trong năm 2019.

Đối với Việt Nam, ông Hoe Ee Khor nhận định, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ trong năm 2017 và triển vọng tăng trưởng ngắn hạn ở mức tích cực với tăng trưởng GDP tăng mạnh ở mức 7,4% vào quý I/2018.

Toàn cảnh hội thảo

Thời gian qua, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực ASEAN+3 đã theo đuổi chiến lược “sản xuất nhằm xuất khẩu”. Chiến lược này giúp các nền kinh tế hưởng lợi từ hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hướng đến xuất khẩu để phát triển năng lực sản xuất. Cùng với Trung Quốc và các nền kinh tế lớn khác ở ASEAN, Việt Nam đã thành công trong việc thu hút vốn FDI để xây dựng khu vực sản xuất cạnh tranh, giúp tạo công ăn việc làm và thúc đẩy xuất khẩu.

Bàn sâu hơn về mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu tại Việt Nam, theo ông Sebastian Eckardt, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, mô hình này đã đem lại cho Việt Nam nhiều thành công nổi bật.

“Cách đây 10 năm, tăng trưởng xuất khẩu trong ngành chế tạo đạt khoảng 9%-10%/năm, thì những năm gần đây, mức tăng trưởng trung bình đạt 16%/năm, thậm chí trong quý I/2018, con số tăng trưởng lên đến 30%. Hiện chế tạo cho xuất khẩu của Việt Nam chiếm đến 90% tổng kim ngạch xuất khẩu”, ông Sebastian Eckardt cho biết.

Thêm vào đó, chiến lược sản xuất nhằm xuất khẩu đã cải thiện năng suất lao động tại Việt Nam, có khoảng 1,5 triệu việc làm mới được tạo ra nhờ chiến lược này.

Giải quyết những thách thức ngắn hạn

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của AMRO, ASEAN+3 hiện đang đối mặt với hai rủi ro ngắn hạn. 

Một là, điều kiện tài chính toàn cầu có thể bị thắt chặt nhanh hơn dự báo do chính sách tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).

Hai là, leo thang căng thẳng thương mại toàn cầu. Tác động bất lợi của các rủi ro này lên các nền kinh tế trong khu vực có thể là việc các luồng vốn bị rút khỏi khu vực, chi phí vay vốn tăng lên và hoạt động đầu tư và thương mại trong khu vực suy giảm.

Mặt khác, chiến lược sản xuất nhằm xuất khẩu của các nước ASEAN+3 cũng đang đối mặt với những thách thức mới bởi những thay đổi hệ thống trong các chuỗi giá trị toàn cầu cho phép các nước sản xuất nguyên liệu đầu vào ngay tại thị trường sở tại, thay vì phải nhập khảu các nguyên liệu này.

Để ứng phó với các thách thức nói trên, các đại biểu tham dự hội thảo đều cho rằng, các nền kinh tế khu vực ASEAN+3 cần tăng cường kết nối và hội nhập khu vực. Qua đó, hưởng lợi từ tăng trưởng cầu nội khối đối với hàng hóa, dịch vụ và củng cố tăng trưởng bền vững chống lại các cú sốc bên ngoài.

Ông Hoe Ee Khor khẳng định, nguồn lực dồi dào và kinh tế đa dạng là sức mạnh phát triển kinh tế của các nước ASEAN+3. Theo đó, ASEAN+3 cần cải thiện kết nối khu vực thông qua tăng cường đầu tư vào cơ sử hạ tầng cùng với các chính sách thúc đẩy thương mại. Các nước cũng cần chú trọng đến chính sách phát triển ngành nghề dịch vụ và nguồn nhân lực, bao gồm tự do hóa khu vực dịch vụ và tăng cường nhân lực trong khu vực ASEAN+3 thông qua các biện pháp phát triển lực lượng lao động và nhập cư phù hợp.

Đồng thời, để tạo ra cơ hội mới đối với chiến lược sản xuất nhằm xuất khẩu, Việt Nam cũng như ASEAN+3 cần đầu tư hơn vào công nghệ để thúc đẩy sự “trỗi dậy” của khu vực dịch vụ với vai trò là cỗ máy tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng và việc làm trong tương lai.

 “Công nghệ vừa đặt ra những thách thức nhưng cũng tạo cơ hội mới cho hoạt động sản xuất”, ông Sebastian Eckardt lưu ý.

Ngoài ra, “để tăng cường ổn định trong bối cảnh điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt trong thời gian tới, các nhà hoạch định chính sách trong khu vực cần tiếp tục củng cố không gian chính sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó, chính sách tài khóa cũng có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong việc hỗ trợ tăng trưởng, trong khi đó, chính sách an toàn vĩ mô có thể giúp duy trì ổn định thị trường tài chính”, báo cáo đề xuất./.

Liên Trang
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan