Cập nhật ngày 07/11/2014 - 11:47:38

           

Khai thác cơ hội từ nhân khẩu học để phát triển kinh tế - xã hội

- “Nếu chúng ta chăm lo tốt về lao động, y tế thì nguồn lao động dồi dào sẽ thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, ngược lại nếu không chăm lo tốt, thì vấn đề này trở thành gánh nặng cho xã hội”.

 Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương đã phát biểu như vậy tại Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm trong nước và quốc tế về tận dụng cơ hội từ biến đổi nhân khẩu học cho phát triển kinh tế - xã hội và hàm ý đối với Việt Nam” sáng ngày 7/11 do Viện Chiến lược Phát triển và Quỹ Dân số Liên hợp quốc đồng chủ trì.

Nhân khẩu học đang có nhiều biến đổi

Ông Arthur Erken, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam cho biết: “ Mối quan hệ giữa dân số và phát triển đang ngày càng trở thành vấn đề qua trọng trên toàn cầu. Điều này đã được nhấn mạnh trong quá trình thảo luận của Chương trình Hành động sau năm 2014 của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và Bản Nghị sự phát triển sau năm 2015, cũng như những đàm phán giữa các chính phủ xung quanh các mục tiêu phát triển bền vững. Những thách thức liên quan tới dân số và phát triển đan xen cùng với những vấn đề về nghèo đói, xu hướng tiêu dùng và bất bình đẳng. Vì con người là trung tâm của phát triển, quyền, nhu cầu và hạnh phúc của con người phải được đặt làm trọng tâm của các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển. Vì vậy, những vấn đề dân số phải được lồng ghép vào quy hoạch phát triển tại cấp quốc gia và địa phương, bao gồm cả trong Bản Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội trong giai đoạn tới”.

Với mục tiêu phục vụ cho quá trình xây dựng bản Báo cáo về Phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020 để trình lên Đại hội Đảng lần thứ XII vào đầu năm 2016, cũng như cá kế hoạch kinh tế - xã hội khác của Việt Nam đến năm 2030, hội thảo đã cung cấp thông tin về  vấn đề dân số của Việt Nam và tác động đến sự phát triển của đất nước.

Kết quả từ Tổng Điều tra dân số và các điều tra khác cho thấy, Việt Nam đang bước vào thời kỳ cần tận dụng tối đa lợi ích của cơ cấu dân số vàng, đồng thời cũng đang trải qua thời kỳ thay đổi nhân khẩu học một cách rõ rệt: giảm mức sinh và mức chết; di cư diện rộng với số lượng lớn dẫn tới đô thị hóa với tốc độ chóng mặt; và mất cân bằng giới tính khi sinh. Những yếu tố này đang ngày càng ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cả cấp quốc gia và địa phương.

Quy mô dân số ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập bình quân đầu người, trong đó, thu nhập quốc dân là tử số, quy mô dân số là mẫu số, mẫu số càng lớn thì thương số càng nhỏ. Dân số tác động đến kinh tế ở tầm vĩ mô, vi mô, đến quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, tích lũy và tái đầu tư. Khi mức sinh cao, tỷ lệ phụ thuộc cao nên khả năng đầu tư thấp, khả năng sản xuất kém, thu nhập bình quân đầu người không tăng hoặc tăng rất chậm. Khi mức sinh giảm, quy mô dân số ổn định và đặc biệt đối với những quốc gia có cơ cấu dân số vàng với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao, thì khả năng sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội lớn, khả năng tích lũy cao, tái đầu tư lớn, tạo điều kiện thuận lợi choh sự tăng trưởng kinh tế.

Như vậy, với việc đạt mức sinh thay thế và duy trì ổn định mức sinh xung quanh mức sinh thay thế sẽ tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng với nhóm dân số thanh niên đông đảo nhất từ trước đến nay. Cụ thể, hiện đang có 62 triệu người đang trong độ tuổi lao động, chiếm 68,5% dân số. Theo Tổng cục Thống kê, dự báo đến năm 2049 tỷ trọng dân số lao động chiếm 64,42%. Trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, Việt Nam sẽ có lực lượng lao động trẻ hùng hậu. Nếu lực lượng này được tận dụng tối đa trí tuệ, sức lao động thì sẽ tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ, làm tăng thu nhập bình quân đầu người và tạo ra giá trị tích lũy lớn cho tương lai, đảm bảo an sinh xã hội thích ứng với giai đoạn dân số già, phục vụ công cuộc cong nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho sự chấn hưng và phát triển của dân tộc với phương châm “đi tắt đón đầu”.

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, cơ hội dân số vàng đóng góp khoảng 1/3 cho tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã tận dụng tốt cơ hội nhân khẩu học này, làm nền tảng cho tăng trưởng kinh tế một cách ngoạn mục và trở thành những con rồng châu Á. Kinh nghiệm cũng cho thấy, mấu chốt để phát huy được cơ cấu dân số vàng là phải có nguồn nhân lực chất lượng cao và các nhà khoa học cũng dự báo thời kỳ cơ cấu dân số vàng của Việt Nam kéo dài trong khoảng 30-35 năm.

Tuy nhiên, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ý thức kỷ luật lao động, sức bền, kỹ năng quản lý của chúng ta còn nhiều hạn chế. Theo Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, trong nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên, có đến 86,7% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Số người có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm một phần rất nhỏ, khoảng 4,4%. Đây thực sự là một con số đáng báo động đối với lực lượng lao động của nước ta. Đó là chưa kể đến việc đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động. Câu chuyện về việc không doanh nghiệp nào trong nước sản xuất được chiếc ốc vít cho tập đoàn Samsung vừa qua là một ví dụ điển hình về năng lực sản xuất, cạnh tranh, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của chúng ta.

Bên cạnh đó, Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa dân số với tốc độ để bước sang giai đoạn dân số siêu già vào năm 2050 thuộc hàng nhanh nhất thế giới nhưng chưa kịp thích ứng với sự biến đổi nhân khẩu mạnh mẽ này. Cụ thể là: có tới 70% người cao tuổi không có tích lũy vật chất, sống cùng và chủ yếu dựa vào con cháu trong khi cấu trúc gia đình đang ngày nhiều thay đổi; hệ thống chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội cho người già còn chưa kịp thích ứng…

Tình trạng mất cân bằng giới tinh khi sinh ngày càng gia tăng cũng là một vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt. Tỷ số giới tính năm 2013 đã là 113,8 trẻ trai/100 trẻ gái và còn tiếp tục tăng. Trong tương lai, với sự mất cân bằng giới tính có thể sẽ gây tan vỡ cấu trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn, thậm chí không có khả năng kết hôn, gia tăng bất bình đẳng giới, bạo hành giới, buôn bán phụ nữ…               

Phải làm gì để tận dụng cơ hội?

Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 đã chỉ ra: “Các hoạt động hàng ngày của toàn bộ con người, các cộng đồng và các quốc gia có quan hệ qua lại với biến động về dân số, hình thái và mức độ sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tình trạng môi trường, tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế - xã hội”.

Vì vậy, ông Lolito Ribunal Tacardon, Giám đốc khu vực, Ủy ban Dân số, Vùng thủ đô, Philippines, một lần nữa khẳng định, dân số là yếu tố then chốt trong tăng trưởng toàn diện và phát triển bền vững. Do đó, cần có sự lồng ghép dân số và phát triển kinh tế - xã hội. Cần có sự tham gia của tất cả các ngành vào sự lồng ghép này, bao gồm: giáo dục, việc làm, biến đổi khí hậu, môi trường, nông nghiệp…

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế cũng cho rằng, Chính phủ cần lồng ghép dân số vào phát triển bền vững, thông qua tăng cường cơ sở pháp lý và tính pháp quy về phạm vi, quy trình lồng ghép dân số trong hệ thống các ngành, lĩnh vực và các cấp; nâng cao kiến thức, kỹ năng của cán bộ lãnh đạo, cán bộ thực hành việc lồng ghép dân số ở các ngành, các lĩnh vực và các cấp…

Quan trọng không kém, Việt Nam cần khai thác đầy đủ lợi thế cơ cấu dân số vàng mà  cốt yếu là  nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Tăng cơ hội việc làm, hướng đến những việc làm tạo giá trị gia tăng cao dựa trên năng suất lao động. Đồng thời, có chính sách đầu tư và tái đầu tư cho phát triển, đặc biệt là phát triển con người./.

Trang Trần
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan