Cập nhật ngày 07/04/2021 - 16:25:58

           

Việt Nam đạt được nhiều thành công sau 2 năm tham gia CPTPP

- Tham tán Kinh tế và hợp tác phát triển Australia tại Việt Nam, ông David Gottlieb cho rằng, trong 2 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành công lớn khi trở thành thành viên của CPTPP. Cũng theo ông David, Australia cam kết cùng Việt Nam phục hồi kinh tế hậu Covid-19 và nghiên cứu những cách thức mà CPTPP có thể được tận dụng để thúc đẩy thương mại số.

Việt Nam đạt được nhiều thành công khi trở thành thành viên CPTPP

Tại Hội thảo “Hai năm thực thi Hiệp định CPTPP tại Việt Nam - Đánh giá từ góc nhìn doanh nghiệp” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại Hà Nội sáng nay 7/4 trong khuôn khổ hỗ trợ của của Chương trình Aus4Reform - Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, ông David Gottlieb, Tham tán Kinh tế và hợp tác phát triển Australia tại Việt Nam cho rằng, đại dịch Covid-19 tạo ra những thách thức chưa từng có, trong đó có cả nguyên tắc về tự do và mở cửa thương mại. Tuy nhiên, đại dịch đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác và các mối quan hệ thương mại chặt chẽ. Các thành viên của CPTPP bao gồm Australia và Việt Nam đã đối phó/phản ứng với đại dịch bằng cách thực hiện những cam kết đối với thương mại dựa trên luật lệ và duy trì những chuỗi cung ứng mở, thông tin tích cực và minh bạch. CPTPP là một FTA tham vọng và tiêu chuẩn cao, liên quan đến mọi khía cạnh quan trọng của thương mại và đầu tư. “Trong bối cảnh hiện nay, quan trọng hơn bao giờ hết là phải chống lại chủ nghĩa bảo hộ và củng cố một hệ thống thương mại mở, hiệu quả, công bằng, toàn diện và dựa trên luật lệ để khôi phục sự phát triển kinh tế toàn cầu”, ông nói.

Ông David Gottlieb cho rằng, công nghệ số hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong mọi khía cạnh xã hội

Cũng theo ông David Gottlieb, trong 2 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành công lớn khi trở thành thành viên của CPTPP. Việt Nam cần được tuyên dương và tự hào vì đã quyết tâm thực hiện đầy đủ các cam kết trong CPTPP. Tuy nhiên, Việt Nam không thực hiện một mình. Australia cũng cam kết cùng Việt Nam phục hồi kinh tế hậu Covid-19, bao gồm cả việc thiết lập và tăng cường các chuỗi giá trị và nghiên cứu những cách thức mà CPTPP có thể được tận dụng để thúc đẩy thương mại số.

Trong bối cảnh đại dịch, ông David Gottlieb cho rằng, công nghệ số hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong mọi khía cạnh xã hội. “Chúng tôi khuyến khích Việt Nam tìm ra và tận dụng cơ hội từ CPTPP để tăng cường số hóa trong khu vực. Rất may là, cả Australia và Việt Nam đã kiểm soát đại dịch tốt hơn so với nhiều quốc gia khác, nhờ khả năng đàn hồi của nền kinh tế mà phần lớn nhờ lĩnh vực xuất khẩu. Vì vậy, chúng tôi rất vui khi thông qua chương trình Aus4Reform, Australia đã tài trợ nghiên cứu đánh giá 2 năm thực hiện CPTPP từ góc độ doanh nghiệp. Tôi tin rằng, những phản hồi của doanh nghiệp sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho cơ quan nhà nước cũng như VCCI, các tổ chức và doanh nghiệp để nhìn lại chúng ta đang hưởng lợi gì từ hiệp định”, ông nói. Những gì chúng ta rút ra được là cơ sở quan trọng cho những bước đi tiếp theo trên con đường hội nhập CPTPP nói riêng và các FTA nói chung.

 

Xuất khẩu Việt Nam vào thị trường CPTPP tăng trưởng khả quan

Cụ thể, theo báo cáo khảo sát do VCCI thực hiện, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các đối tác CPTPP năm 2019 đạt tăng trưởng trung bình 7,2% so với năm 2018, trong khi nhập khẩu chỉ tăng nhẹ ở mức 0,7%. Xuất khẩu sang các thị trường mới trong CPTPP ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng (trong khoảng từ 26%-36%). Trong bối cảnh hầu như tất cả các đối tác CPTPP đều giảm nhập khẩu năm 2019, việc Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng này cho thấy CPTPP đang ít nhiều tạo ra những tác động ban đầu tích cực.

Đặc biệt, CPTPP đang thể hiện hiệu ứng tốt trong mở đường cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam tiến vào châu Mỹ một cách trực tiếp (ở các thị trường mà CPTPP đã có hiệu lực, gồm Canada và Mexico) và cả gián tiếp (thông qua động lực thúc đẩy thương mại song phương với các thị trường mà CPTPP chưa có hiệu lực như Peru, Chile).

Đáng chú ý, bà Nguyễn Cẩm Trang - Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định trong khối thị trường các nước CPTPP nổi lên 2 thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất là Canada và Mexico.

Với thị trường Canada, xuất khẩu năm 2020 đạt kim ngạch gần 4,4 tỉ USD, tăng 12% - cao hơn nhiều so với mức tăng xuất khẩu chung (7%).

Điểm chưa đạt kỳ vọng khi Việt Nam tham gia CPTPP là thu hút vốn FDI, nhưng các doanh nghiệp tin rằng, CPTPP sẽ tác động tốt hơn ở giai đoạn hậu Covid

Trong đó, xuất khẩu các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng gồm điện thoại các loại chiếm trên 62%/năm; Các sản phẩm mây, tre, cói và thảm; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc; Sản phẩm từ sắt thép; Phương tiện vận tải và phụ tùng… xuất khẩu sang Canada trong năm 2020 chiếm 25%, còn lại 15% là các sản phẩm gỗ, đồ gỗ, hàng rau quả, dụng cụ thể thao…

Mexico là đối tác thương mại lớn thứ 3 lại Mỹ La Tinh. Trong thời gian qua, thương mại hai chiều tăng bình quân 14,6%/năm. Xuất khẩu tăng bình quân 18,8%/năm.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia thực hiện khảo sát, trong so sánh với mặt bằng chung, lợi ích từ CPTPP còn khiêm tốn. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đi các thị trường CPTPP (7,2%) thấp hơn so với mức 8,4% tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đi toàn thế giới trong cùng thời kỳ. Hơn nữa, với một số thị trường CPTPP, đà tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn trước khi có CPTPP vốn cũng đã ở mức cao hơn đáng kể so với trung bình xuất khẩu đi các thị trường khác, cho thấy CPTPP dường như chỉ có tác động bổ trợ nào đó cho đà tăng tự nhiên này.

 Tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan CPTPP của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam năm 2019 chỉ đạt 1,67%, mức rất thấp không chỉ so với mức trung bình năm 2019 (37,2%) mà còn so với tỷ lệ tận dụng năm đầu tiên của nhiều FTA khác. Đây là chỉ dấu rất đáng quan ngại, cho thấy khả năng hiện thực hóa các lợi ích xuất khẩu trực tiếp từ Hiệp định này của Việt Nam còn hạn chế.

Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, xuất khẩu của Việt Nam đi các thị trường đã phê chuẩn CPTPP chỉ đạt kim ngạch xấp xỉ 2019. Tuy nhiên, tín hiệu tích cực là tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan CPTPP trong năm thứ 2 này đã được cải thiện, đạt 4% trong trung bình, riêng với các thị trường mới là Canada và Mexico là 17%.

Tuy nhiên, điểm chưa đạt kỳ vọng khi tham gia CPTPP là thu hút vốn FDI. Năm 2019, Việt Nam thu hút xấp xỉ 9,5 tỷ USD vốn đầu tư từ các nước CPTPP, giảm gần 36% so với năm 2018. Trong đó, thu hút FDI từ các đối tác lớn như Nhật Bản có mức giảm sâu nhất về giá trị (từ gần 9 tỷ USD năm 2018 giảm xuống còn hơn 4 tỷ USD năm 2019, tương đương giảm 52%). Về tốc độ, vốn FDI giảm mạnh từ các nguồn truyền thống như Australia (giảm gần 63%), Malaysia (giảm 50.

Điểm sáng trong bức tranh này là vốn FDI từ các đối tác mới trong CPTPP vào Việt Nam (Canada, Mexico) hoặc các đối tác truyền thống nhỏ (Brunei, New Zealand) lại được cải thiện đáng kể trong năm 2019. Năm 2020, tình hình được cải thiện hơn, khi tổng vốn đầu tư thu hút từ các đối tác CPTPP đạt 11,8 tỷ USD, tăng 24,4% so với 2019 trong bối cảnh tổng vốn đầu tư nước ngoài mà Việt Nam thu hút trong năm này giảm gần 25%.

 

Doanh nghiệp kỳ vọng CPTPP tác động tốt hơn ở giai đoạn hậu Covid

Kết quả khảo sát tác động cụ thể của CPTPP tới doanh nghiệp rất đáng chú ý khi cho thấy, cứ 4 doanh nghiệp thì mới có 1 doanh nghiệp đã từng được trải nghiệm “trái ngọt” từ Hiệp định này. Nhóm lợi ích phổ biến nhất với các doanh nghiệp này vẫn là thuế quan, tác động từ điều chỉnh chính sách, pháp luật thể chế khi CPTPP được thực thi, tiếp theo là các lợi ích dự kiến trong tương lai (trong các kế hoạch hợp tác, liên doanh với đối tác nước ngoài để tận dụng CPTPP, hay các dự kiến mở rộng thị trường với trợ lực từ Hiệp định này của doanh nghiệp).

Với 75% các doanh nghiệp chưa từng hưởng lợi ích trực tiếp nào từ CPTPP, lý do chủ yếu (60%) là họ không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào liên quan tới thị trường hay đối tác ở khu vực CPTPP trong hai năm vừa qua.

Trong số các doanh nghiệp đã từng có giao dịch với các thị trường này nhưng chưa hưởng lợi CPTPP, lý do được phần lớn (75%) doanh nghiệp đề cập là họ không biết có cơ hội nào từ CPTPP. Cũng có một tỷ lệ đáng kể (60%) không thấy có cam kết CPTPP liên quan hoặc do đã hưởng ưu đãi khác phù hợp hơn. 14-16% doanh nghiệp nêu các lý do khác như các văn bản hướng dẫn ban hành chậm, thủ tục hưởng ưu đãi phức tạp, quy trình cấp phép khó khăn, hay khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng của nước nhập khẩu của doanh nghiệp còn hạn chế…

Đánh giá về tác dụng của CPTPP và FTA trong tương lai hậu COVID-19 này, các doanh nghiệp tỏ ra lạc quan một cách bất ngờ. 60% cho rằng CPTPP và các FTA sẽ tương đối hoặc rất hữu ích cho họ trong giai đoạn “bình thường mới”, lớn hơn mức 47% doanh nghiệp đánh giá CPTPP và các FTA có tác động tích cực trong thời gian đã qua.

Trong một tương lai xa hơn, doanh nghiệp cũng tỏ ra rất lạc quan về các tác động tích cực của CPTPP và các FTA. 91,5% doanh nghiệp kỳ vọng ở mức độ khác nhau vào một/các lợi ích CPTPP và các FTA có thể mang lại cho hoạt động kinh doanh của họ. Không chỉ đơn giản là “có kỳ vọng”, có tới 57,7% doanh nghiệp tham gia Khảo sát lựa chọn đặt kỳ vọng cao vào các Hiệp định này. Và sự kỳ vọng này đồng đều ở tất cả các nhóm doanh nghiệp dù là FDI, dân doanh hay 100% vốn Nhà nước.

Từ các kết quả thực thi hai năm đầu thực thi CPTPP, Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc cho rằng, Hiệp định này đã có những tác động tích cực bước đầu, mang tới những lợi ích thực tế cho một số doanh nghiệp. Mặc dù vậy, những gì đã đạt được còn thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng, mà nguyên nhân không chỉ từ các biến cố khách quan, mà ở các vấn đề chủ quan của chính Nhà nước và các doanh nghiệp. Trên cơ sở các phát hiện này, Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam có thể rút kinh nghiệm để “dọn mình” tốt hơn, sẵn sàng thực thi hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Theo ông Lộc, các chương trình, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào các hoạt động thực chất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, xúc tiến thương mại ở tầm quốc gia một cách hệ thống đặc biệt là ở các thị trường mới, cập nhật thông tin thị trường và kết nối cung cầu. Các hoạt động này cũng cần được thiết kế theo các nhóm đối tượng riêng, với ưu tiên đặc biệt dành cho các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ.

Đối với các doanh nghiệp, chủ động tìm hiểu cơ hội, cam kết CPTPP và hành động hiện thực hóa những lợi ích từ Hiệp định là đòi hỏi quan trọng nhất. Nâng cao năng lực cạnh tranh mà bắt đầu từ năng lực cạnh tranh của sản phẩm không chỉ là công việc thường xuyên phải thực hiện mà còn là chìa khóa để doanh nghiệp chớp được các cơ hội từ quá trình hội nhập CPTPP và các FTA. Liên kết và hợp tác trong kinh doanh để cùng mạnh, qua đó thu lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ quá trình này cũng là điều cần đặc biệt chú ý./.

Hiếu Phương
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan