Cập nhật ngày 11/12/2013 - 15:59:20

           

Đại học ngoài công lập: “Thời bung ra” đã hết?

- Sau 20 năm hình thành và phát triển theo chủ trương xã hội hóa giáo dục của Nhà nước, các trường đại học ngoài công lập (ĐHNCL) Việt Nam đã góp phần không nhỏ trong việc tạo thêm nhiều cơ hội được học tập và việc làm cho hàng chục vạn người. Tuy nhiên, ĐHNCL đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, khiến các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách băn khoăn: nên dừng hay tiếp tục? Tiếp tục thì phải như thế nào? Hay “thời bung ra” đã kết thúc?...

Khó khăn chồng chất khó khăn

Cơ sở vật chất chưa đảm bảo, số lượng giáo viên cơ hữu thấp

Năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo liên tiếp ban hành các quyết định tạm ngừng tuyển sinh đối với 7 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập trên cả nước, trong đó có 3 trường đại học (Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh, Đại học Đông Đô Hà Nội và Đại học Văn Hiến TP. Hồ Chí Minh), điều này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo những bất cập về cơ chế hoạt động, đội ngũ, cơ sở vật chất, các yếu tố bảo đảm chất lượng đào tạo để thu hút nhiều sinh viên. Các trường đều chưa có cơ sở đào tạo thuộc sở hữu của trường và tỷ lệ sinh viên/giảng viên vượt quá quy định.

Theo Quyết định số 86/2000/TTg, ngày 18/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế trường đại học dân lập có nêu rõ, một trong những điều kiện và thủ tục thành lập trường là bản cam kết trong vòng 10 năm phải xây dựng được trường sở tương ứng với quy mô, ngành nghề đào tạo dự kiến. Tuy nhiên, hiện nay, riêng tại TP. Hồ Chí Minh – nơi có nhiều trường ĐHNCL nhất cả nước, có rất nhiều trường như: Đại học Văn Hiến, Đại học Hùng Vương, Đại học Hồng Bàng… (thành lập hơn 10 năm) cơ sở vẫn phải đi thuê, sinh viên nhiều khoa phải chen nhau học gộp.

Cùng với đó là số lượng giảng viên cơ hữu tại trường không đảm bảo. Theo Thông tư 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17/2/2011 Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng có nêu rõ: các trường đại học phải có đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm nhận giảng dạy tối thiểu 70% khối lượng của chương trình đào tạo. Tuy nhiên, hầu như để hợp lý hóa, các trường ĐHNCL đều nâng số giáo viên cơ hữu lên rất cao, nhưng đa phần giảng viên chủ yếu đều là thỉnh giảng từ các trường công lập. Thậm chí, một số trường “chữa cháy” bằng các hợp đồng “bán cơ hữu”, nghĩa là người ký hợp đồng với nhà trường vẫn đang là giảng viên cơ hữu ở một trường khác. Điều này dẫn đến những khó khăn đối với việc học tập của sinh viên, thời khóa biểu thường chỉ sắp xếp theo tuần, lịch học thường xuyên bị ngắt quãng vì không có giáo viên, thậm chí, có khi một tuần chỉ bố trí được hai buổi, hay đang học môn đó được một nửa thì giáo viên của các trường ĐHNCL nghỉ dạy đến gần một tháng mới học lại...

Sức hấp dẫn của các trường ĐHNCL đối với sinh viên ngày càng yếu

Không chỉ rơi vào tình trạng khó khăn về cơ sở vật chất và lực lượng giảng dạy, nhiều trường ngoài công lập dù đã xây dựng được trường lớp khang trang hiện đại, bỏ ra không ít tiền để thu hút nhân tài, nguồn giảng viên có năng lực tốt, nhưng vẫn rơi vào tình trạng thiếu sinh viên trầm trọng. Một số trường liên tiếp nhiều năm chỉ có 20%-30% sinh viên đến đăng ký dự thi so với chỉ tiêu tuyển sinh hoặc chỉ tuyển được khoảng 50% chỉ tiêu. Trong đợt tuyển sinh năm 2013, tính đến ngày 31/10 là hạn cuối cùng các trường đại học, cao đẳng trên cả nước nhận hồ sơ xét tuyển nguyện vọng, nhưng rất nhiều trường ngoài công lập vẫn chỉ tuyển được dưới 50% chỉ tiêu, một kết thúc không khá khẩm hơn các năm trước dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những điều chỉnh nới lỏng về đề thi và giữ mức điểm sàn. Theo thống kê của một số trường, như: trường đại học Hòa Bình tuyển được 300 em trên tổng số 1200 chỉ tiêu, trường đại học Chu Văn An (Hưng Yên) chỉ 100 em dù có đến 1.000 chỉ tiêu…

Vì đâu nên nỗi?

Không thể phủ nhận những bất cập của các trường ĐHNCL, nhưng công bằng mà nói, các trường này cũng đang gặp rất nhiều khó khăn về môi trường thể chế, cụ thể:

Về cơ chế chính sách, mặc dù chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa giáo dục đã khẳng định sự tồn tại của hệ thống giáo dục ngoài công lập. Tuy nhiên, đến nay về mặt pháp luật và cơ chế chính sách cho loại hình này còn nhiều bất cập, vẫn loay hoay trong việc “trói, mở - mở, trói” trong quản lý. Trong khi đó, các trường đại học của các nước phát triển đang ngày càng xâm nhập vào Việt Nam, coi giáo dục là thị trường đầy tiềm năng.

Về quyền sở hữu, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, trường ĐHNCL được chia thành 2 loại hình: trường dân lập (do cá nhân hoặc một nhóm cá nhân xin phép thành lập và tự đầu tư) và trường tư thục (do các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, kinh tế xin phép thành lập và tự đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước). Đối với trường dân lập, người góp vốn không được xem là chủ sở hữu của trường mà chỉ được xem như người cho vay, vốn góp được hưởng lãi suất và từng bước được hoàn lại. Các trường này, nếu càng đầu tư phát triển cơ sở vật chất, làm tăng giá trị tài sản chung càng nhiều, thì những người góp vốn đầu tư xây dựng trường sẽ càng mất quyền kiểm soát đối với nhà trường khi chuyển sang tư thục, bởi lẽ tỷ lệ vốn sở hữu chung chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trong khi người đại diện cho vốn sở hữu chung (được quyền tham gia biểu quyết như một cổ đông) có thể là người không có vốn góp.

Hơn nữa, trong quá trình điều hành, quyền tham gia của người góp vốn được thực hiện dựa vào việc cử người vào Hội đồng quản trị. Nhưng, những người đại diện này chỉ là một thành phần trong Hội đồng quản trị, bởi lẽ theo Quy chế trường đại học dân lập và Luật giáo dục đại học thì có nhiều thành viên đương nhiên trong Hội đồng quản trị trường dân lập và trường tư thục không nhất thiết phải có vốn góp.

Về vấn đề đất đai, hiện nay theo quy định, diện tích đất cho một sinh viên là  25 m2. Rõ ràng, diện tích đất rộng là niềm mơ ước của tất cả  các trường đại học, nhưng quy định chuẩn diện tích cao, mà thiếu các giải pháp thiết thực để hỗ trợ thực hiện thì lại gây không ít khó khăn cho các trường ĐHNCL, nhất là đối với các trường ở thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.

Về dư luận xã hội, thời gian qua một số quyết định đình chỉ tuyển sinh và cảnh báo một số trường với các lý do, như: diện tích đất, chưa xây dựng cơ sở học tập, tỷ lệ sinh viên/giảng viên chưa đạt chuẩn, trong đó lại tập trung chủ yếu ở các trường ĐHNCL. Nếu việc này xảy ra trên cơ sở kiểm tra đánh giá tổng thể, bao gồm toàn bộ các trường đại học và cao đẳng cả nước, thì xã hội sẽ không có cái nhìn thiên lệch đối với hệ thống các trường ĐHNCL, bởi lẽ nhiều trường công lập, kể cả những trường lớn và phát triển lâu đời, cũng rơi vào tình trạng diện tích đất hay tỷ lệ sinh viên/giảng viên chưa đạt theo quy định. Những hiện tượng nêu trên đã tạo một cảm giác bất an cho người học khi đến với các trường ĐHNCL.

Thêm vào đó, trong tiêu chí tuyển dụng của một số ngân hàng, công ty, kể cả cơ quan hành chính địa phương chỉ nhận sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học công lập (hệ chính quy). Điều đó có nghĩa đã thẳng thừng loại bỏ sinh viên các trường ĐHNCL, cho dù có những sinh viên rất giỏi. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ tuyển sinh của các trường ĐHNCL ngày càng thấp.

Khắc phục khó khăn, tìm đường phát triển

Hơn lúc nào hết, các trường ĐHNCL đang rất cần sự quan tâm của Nhà nước, xã hội để tự khẳng định mình, từng bước xây dựng thương hiệu, chuẩn mực về chất lượng. Cụ thể:

Thứ nhất, giải quyết hợp lý vấn đề đất đai và cơ sở vật chất của các trường ĐHNCL. Quy định chuẩn đất đai cần tính đến điều kiện thực hiện của các trường, trong đó có vai trò rất lớn của chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, trong bối cảnh chung hiện nay các trường đại học đều có quỹ đất còn hạn hẹp, thì đất rộng chưa hẳn là yếu tố làm nên chất lượng đào tạo. Một trường đại học có thể đất không rộng, nhưng cơ sở phòng ốc khang trang, trang thiết bị dạy học hiện đại, giảng viên giỏi, phương pháp giảng dạy tốt… vẫn có thể đạt chất lượng đào tạo cao. Những trường tốt sẽ tồn tại, những trường không tốt sẽ bị đào thải theo quy luật cạnh tranh.

Trong trường hợp nếu phải xử lý các trường ĐHNCL không đạt chuẩn về đất đai và cơ sở vật chất nói chung, thì việc xử lý này nên được đặt trong bối cảnh tổng thể của hệ thống các trường đại học, gồm cả các trường công lập. Không nên cắt riêng một số trường kiểm tra trước để đình chỉ tuyển sinh hay đóng cửa, trong khi có thể có những trường khác kém hơn nhưng “may mắn” chưa bị kiểm tra nên vẫn hoạt động bình thường. Chưa nói, cách làm này có thể dẫn đến tệ nạn “chạy chọt”, “xin – cho”, “ban phát” và các tiêu cực khác làm hoen ố hình ảnh cao quý của giáo dục Việt Nam.

Ngoài ra, chính sách ưu đãi trong việc vay vốn xây dựng trường  cũng nên được duy trì, vì nếu không thì các trường ĐHNCL cũng sẽ gặp  nhiều khó khăn về tài chính. Đầu tư vào trường đại học là đầu tư mang tính dài hạn, nhất là đối với những trường chú trọng chất lượng đào tạo. Vì vậy, những khoản vay ưu đãi thực sự rất cần thiết để phát triển các trường đại học lớn mà không có sự tài trợ từ ngân sách hay các nguồn khác.

Thứ hai, thay đổi nhận thức về trường ĐHNCL. Tạo lập thái độ đối xử bình đẳng giữa người học ở trường công lập và trường ngoài công lập. Xây dựng cơ chế cạnh tranh, sân chơi bình đẳng cho các trường để nâng cao chất lượng. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang soạn thảo trình Chính phủ hệ thống phân tầng xếp hạng các trường miễn là đạt tiêu chí chất lượng, không phân biệt công lập, ngoài công lập và Trung tâm kiểm định chất lượng độc lập đầu tiên đã được thành lập. Đây được coi là tín hiệu vui đối với các trường ĐHNCL.

Thứ ba, nâng cao tính tự chủ của các trường ĐHNCL. Các trường chú trọng hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý đào tạo tinh gọn, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy cơ hữu, hệ thống cộng tác viên với tỷ lệ hợp lý, đảm bảo hoạt động dạy và học được diễn ra thông suốt. Đồng thời, từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo đủ cho các hoạt động giáo dục toàn diện cho sinh viên. Bên cạnh đó, mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường trong và ngoài nước, nhất là các viện nghiên cứu. Nếu các trường ĐHNCL biết khai thác thì đây chính là thế mạnh giúp các trường tháo gỡ nhiều vấn đề về đội ngũ mà quy chế ngoài công lập đặt ra.

Thứ tư, phát triển ĐHNCL theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo. Theo đó, giáo dục nói chung, giáo dục ĐHNCL nói riêng, phải tạo cho được chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo, khắc phục cơ bản các yếu kém kéo dài đang gây bức xúc trong xã hội. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt. Có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng. Phát triển hài hòa, bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giáo dục ở các vùng, miền.

BOX: Trên thế giới, nền giáo dục của không ít quốc gia lớn cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự, trong đó điển hình là nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, các trường đại học ở Nga, đặc biệt là các trường ĐHNCL mọc lên như nấm sau mưa. Theo các chuyên gia khi đó với tổng số trên 1000 trường đại học cùng 2000 phân hiệu đại học ở một đất nước chỉ có khoảng 143 triệu dân, mà mỗi năm dân số giảm khoảng 600-700 nghìn người, thì chẳng mấy chốc số học sinh tốt nghiệp phổ thông sẽ ít hơn số ghế đang chờ họ ở các trường đại học. Do vậy, trong nhiều năm nay, cuộc chiến trong việc tranh giành người học qua các kỳ tuyển sinh ở Nga đã diễn ra rất khốc liệt. Nhiều chuyên gia của nước này đã khẳng định đó chính là thất bại của cuộc cải cách giáo dục từ những năm 90 thế kỷ XX và chất lượng giáo dục của Nga đang đứng trước nhiều dấu hỏi!

Tài liệu Tham khảo

1. Thủ tướng Chính phủ (2000). Quyết định số 86/2000/TTg, ngày 18/7/2000 về ban hành quy chế trường đại học dân lập
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011). Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17/2/2011 Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng.
3. Lưu Thanh Tâm (2010). Đổi mới quản lý ở các trường đại học ngoài công lập trong xu thế hội nhập quốc tế, Báo cáo tại Hội thảo khoa học Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
4. Cao Văn Phường (2007). Hệ thống giáo dục ngoài công lập đứng trước thời cơ và thách thức, Báo cáo Hội thảo khoa học Đổi mới phương pháp dạy – học trong đào tạo theo học chế tín chỉ và xây dựng hệ thống thông tin quản lý đào tạo, Hải Phòng.
5. Phạm Mai (2013). Bộ “bật đèn xanh”, trường ngoài công lập vẫn ế hàng,  truy cập từ http://beta.vietnamplus.vn/bo-bat-den-xanh-truong-ngoai-cong-lap-van-e-hang/227794.vnp
6. Duy Long. Cải cách giáo dục ở Nga: Có trở về với mô hình giáo dục Xô Viết, truy cập từ http://gdtd.vn/channel/2767/201304/cai-cach-giao-duc-o-nga-co-tro-ve-voi-mo-hinh-giao-duc-xo-viet-1968229/

Thanh Loan
Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 22/2013

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan