Cập nhật ngày 16/10/2018 - 14:49:33

           

Siết chặt an toàn lao động tại các công trình xây dựng

- Việc xảy ra các vụ tai nạn nghiêm trọng từ những công trình thi công trên cả nước đang gióng lên hồi chuông cảnh báo.

Tai nạn liên tiếp xảy ra

Trong 9 tháng đầu năm 2018, liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng từ các công trình xây dựng ở nước ta.

Cụ thể, ngày 17/1, tại công trình dự án Cây xanh, bãi đỗ xe Việt Nhật (đường Tố Hữu, phường Đại Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội) đã xảy ra vụ sập giàn giáo khiến 3 người chết và nhiều người khác bị thương. 

Ngày 25/4, tại công trình xây dựng cây xăng trên đường Ngư Bình (TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế) đã xảy ra vụ sập công trình. Sự việc khiến 7 công nhân bị vùi lấp trong đống bê tông.

Ngày 20/8, một vụ tai nạn lao động đã xảy ra tại công trường xây dựng Dự án tổ hợp văn phòng thương mại dịch vụ nhà trẻ và căn hộ The Sun trên đường Mễ Trì (Hà Nội) khiến 1 người bị thương nặng. Nguyên nhân được xác định là đứt dây cáp cẩu rong quá trình vận chuyển vật liệu xây dựng lên cao khiến vật liệu bị rơi xuống nóc nhà điều hành nằm ở mặt đường Mễ Trì, làm vỡ lớp mái tôn và hệ thống cửa kính của toà nhà.

Sự cố 3 công nhân đang thi công Trung tâm thương mại Giga Mall trên đại lộ Phạm Văn Đồng (phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh) bị rơi xuống đất, chấn thương nặng xảy ra vào sáng ngày 24/9 một lần nữa báo động tình trạng mất an toàn lao động nghiêm trọng tại các công trình xây dựng nhà cao tầng.

Gần đây nhất, ngày 27/9, tại công trường xây dựng dự án Trung tâm Thương mại và Văn phòng cho thuê ở lô đất 4.6-LO đường Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, một thanh sắt lớn dài khoảng 3m từ trên công trình xây dựng bất ngờ rơi xuống đường, trúng 2 xe máy đang lưu thông. Sự việc khiến khiến 2 người thương vong. Tòa nhà đang thi công nhưng không có thiết bị lưới mắc che chắn an toàn. Sự việc xảy ra khiến dư luận không khỏi lo lắng, dường như việc tuân thủ an toàn trong xây dựng vẫn còn bị xem nhẹ.

Hiện trường vụ việc khung sắt công trình rơi ở đường Lê Văn Lương khiến cô gái tử vong

Do sự chủ quan từ nhiều phía

Phần lớn nguyên nhân dẫn đến các vụ tai nạn lao động trong thời gian qua do sự chủ quan, thiếu cẩn trọng; các trường hợp không có hoặc thiếu quy trình, biện pháp làm việc an toàn, thiết bị không bảo đảm và không trang bị đủ phương tiện bảo vệ cá nhân...

Theo nguyên tắc, để tổng thể một dự án “chuẩn”, việc tổ chức biện pháp thi công bao giờ cũng quan tâm đến đảm bảo chất lượng công trình, chất lượng công nhân, chất lượng vật liệu và quy trình thi công. Vì lẽ đó, tại công trường xây dựng buộc phải hình thành bộ phận an toàn lao động để kiểm định, giám sát trang thiết bị kỹ thuật, đồ bảo hộ lao động công nhân, kỹ thuật an toàn thi công.

Tuy nhiên, nhiều dự án xây dựng ở các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh hay Hà Nội lại vận hành theo chu trình ngược: Xảy ra sự cố mới tức tốc kiểm định thiết bị lẫn trách nhiệm giám sát. Thực trạng này xuất phát từ việc các nhà thầu chính đã khoán lại cho các đơn vị nhỏ, lẻ làm theo kinh nghiệm, không xây dựng phương án thi công và không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn; công nhân không được trang bị đầy đủ dây an toàn, hoặc được trang bị nhưng không sử dụng, dù làm việc ở nơi cheo leo. 

Qua đánh giá cho thấy, trên 45% nguyên nhân xảy ra các vụ tai nạn là do người sử dụng lao động. Phân tích cụ thể nguyên nhân, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, doanh nghiệp để xảy ra tai nạn lao động thường vi phạm vào “ba không”, gồm: Không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 14,6% tổng số vụ; Không huấn luyện hoặc huấn luyện an toàn lao động chưa đầy đủ cho người lao động chiếm 12,31%; Không có thiết bị bảo đảm an toàn chiếm 10%. 

Trên báo điện tử Diễn đàn Doanh nghiệp, ông Nguyễn Tiến Tùng - Chánh Thanh tra Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhận định, việc các doanh nghiệp được báo trước khi đoàn Thanh tra đến làm việc cũng là một nguyên nhân khiến cho tai nạn giao thông gia tăng vì đây là kẽ hở để họ bưng bít thông tin, che đậy những sai sót trong công tác bảo đảm an toàn lao động.

Cần siết chặt an toàn lao động

Nhằm ngăn ngừa tình trạng tai nạn lao động đang có xu hướng gia tăng, các chủ đầu tư dự án cần thực hiện đầy đủ các trách nhiệm về an toàn lao động trong thi công xây đựng công trình quy định tại Điều 5, Thông tư 04/2017/TT-BXD của Bộ Xây dựng. Trong đó, quan tâm kiểm tra, chấp thuận kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động của các nhà thầu thi công xây dựng công trình; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch tổng hợp này. Thường xuyên đôn đốc việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động trong thi công xây đựng công trình theo quy định...

Đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị, công trình giao thông cần bố trí đầy đủ các biển báo trên công trường; thường xuyên kiểm tra, rà soát các vị trí hố ga, hố thu, rãnh thoát nước, những vị trí có nguy cơ gây mất an toàn trên công trường và có biển cảnh báo, che chắn an toàn tại những nơi nguy hiểm như: hố ga, kênh mương hở, ao hồ, vùng trũng, cống rãnh, hào kỹ thuật... Trường hợp khẩn cấp, công trình thi công sát với khu vực đông dân cư và đường giao thông phải bố trí lực lượng cảnh giới, túc trực để duy trì đảm bảo công tác an toàn...

Đối với các nhà thầu thi công xây dựng, cần thực hiện đầy đủ các trách nhiệm về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình quy định tại Điều 4 Thông tư 04/2017/TT-BXD ngày 30/3/2017 của Bộ Xây dựng. Trong đó, lưu ý việc tổ chức lập kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động trước khi thi công xây dựng công trình; chỉ đưa các máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động vào sử dụng tại công trường sau khi đã được kiểm định đảm bảo an toàn; hướng dẫn người lao động nhận diện các yếu tố nguy hiểm có nguy cơ xảy ra tai nạn và các biện pháp ngăn ngừa tai nạn trên công trường; yêu cầu người lao động sử dụng đúng và đủ dụng cụ, phương tiện bảo vệ cá nhân trong quá trình làm việc; kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các yêu cầu về an toàn lao động đối với người lao động; quản lý số lượng người lao động làm việc trên công trường. Dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động và có biện pháp khắc phục để đảm bảo an toàn trước khi tiếp tục thi công...

Cùng với đó, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến Thông tư 04/2017/TT-BXD, ngày 30/3/2017 của Bộ Xây dựng quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Thường xuyên kiểm tra giám sát công tác quản lý an toàn lao động, vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng trên địa bàn; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường đối với người đứng đầu có trách nhiệm trực tiếp và các tổ chức, cá nhân liên quan theo đúng quy định của pháp luật nếu để xảy ra tai nạn dẫn đến chết người, thiệt hại về tài sản./.

Trường hợp vi phạm quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng bị xử phạt như thế nào?

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi Khoản 97 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 thì:

1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;         

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

d) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Dấu hiệu pháp lý của tội danh này là:

Thứ nhất, khách thể: Tội phạm này xâm phạm đến sự an toàn trong lao động sản xuất, xâm phạm đến sức khỏe, tài sản, tính mạng của công dân.

Thứ hai, chủ thể: Là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt tuổi luật định.

Thứ ba, mặt khách quan: Người thực hiện hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động, biểu hiện của hành vi vi phạm này có thể là việc:

- Đưa vào sử dụng các trang thiết bị lao động sản xuất không đảm bảo an toàn.

- Không cấp hoặc cấp không đúng tiêu chuẩn, chủng loại các phương tiện bảo hộ lao động, vệ sinh lao động.

Căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này là phải có hậu quả về tài sản, sức khỏe, tín mạng con người.

Thứ tư, mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội là lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả). Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội hoặc tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Hình phạt áp dụng đối với tội danh này là:

Đối với trường hợp thuộc cấu thành cơ bản: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Đối với trường hợp thuộc cấu thành tăng nặng: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (Khoản 2); phạt tù từ 06 năm đến 12 năm (Khoản 3).

Trường hợp, vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung được nêu tại Khoản 5.

Tham khảo từ nguồn:

http://saigondautu.com.vn/bat-dong-san/thi-cong-nha-cao-tang-o-tphcm-nhieu-cong-trinh-mat-an-toan-lao-dong-61721.html

http://enternews.vn/an-toan-lao-dong-trong-xay-dung-dang-bi-xem-nhe-136894.html

http://www.bacgiang.gov.vn/ves-portal/40892/Tang-cuong-dam-bao-an-toan-lao-dong,-an-toan-giao-thong-tai-cac-cong-trinh-xay-dung.html

 

http://www.nhandan.com.vn/hanoi/item/37789502-bao-dam-an-toan-lao-dong-tai-cac-cong-truong-xay-dung.html

Trang Trần (tổng hợp)
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan