Cập nhật ngày 25/07/2018 - 17:36:15

           

Đảm bảo an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp khai thác mỏ: Thực trạng và giải pháp

- Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tai nạn lao động và tai nạn lao động chết người trong khai thác khoáng sản trong những năm gần gây luôn chiếm tỷ lệ cao, bình quân 4 năm 2013-2016 là 13,2% tổng số người chết vì tai nạn lao động và có hàng ngàn người bị bệnh nghề nghiệp.

 

Số tai nạn lao động vẫn còn đáng báo động

Hoạt động khai thác khoáng sản thời gian qua đã và đang phát triển mạnh mẽ, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần cải tạo từng bước cơ sở hạ tầng của các địa phương nơi có các mỏ khoáng sản, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa; đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của đất nước. Để quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên khoáng sản và quan trọng là bảo vệ tính mạng, sức khỏe người lao động, trong khai thác mỏ, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động luôn là những ưu tiên hàng đầu.

Trong những năm gần đây, sau khi Bộ Luật Lao động được ban hành, cùng với các Luật khoáng sản, Luật bảo vệ môi trường và các Quy chuẩn kỹ thuật an toàn trong khai thác mỏ, trật tự khai thác, bảo vệ tài nguyên khoáng sản đã từng bước được thiết lập, hạn chế dần các hoạt động khai thác trái phép khoáng sản, gây mất an toàn lao động, phá hoại môi trường.

Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động trong khai thác mỏ, nhất là trong khai thác than, khai thác đá và một số loại khoáng sản vẫn diễn biến khó lường.

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tai nạn lao động và tai nạn lao động chết người trong khai thác khoáng sản trong những năm gần gây luôn chiếm tỷ lệ cao, bình quân 4 năm 2013-2016 là 13,2% tổng số người chết vì tai nạn lao động và có hàng ngàn người bị bệnh nghề nghiệp. Tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong những năm qua diễn biến rất phức tạp, số vụ tai nạn lao động ngày càng gia tăng, số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng cũng đã xảy ra có chiều hướng tăng và mức độ rất nghiêm trọng, có nhiều người chết trong một vụ.

Thực tế hiện nay, trừ các mỏ khai thác than và một số mỏ khai thác đá làm nguyên liệu sản xuất xi măng được đầu tư quy mô, tổ chức khai thác mỏ tuân thủ đầy đủ các quy định, quy chuẩn kỹ thuật an toàn khai thác mỏ từ khâu khai thác, vận chuyển đến chế biến, còn lại phần lớn các mỏ đá, mỏ mở quặng kim loại hoặc phi kim có quy mô khai thác nhỏ.

Tại những mỏ này, tình trạng phổ biến là không tiến hành thăm dò khoáng sản, không có thiết kế mỏ và nếu có thì cũng không được cơ quan có thẩm quyền thẩm định theo quy định. Biện pháp khai thác chủ yếu tại các mỏ là khấu suốt, chiều cao tầng khai thác và góc dốc sườn tầng khai thác không đáp ứng các quy định về an toàn trong khai thác. Các mỏ thường không có giám đốc điều hành mỏ đảm bảo đủ điều kiện năng lực chuyên môn cũng như năng lực quản lý, điều hành mỏ theo quy định hiện hành.

Một số loại khoáng sản đang được khai thác bằng phương pháp khai thác hầm lò, gồm: Khai thác vàng sa khoáng, khai thác quặng chì, măng gan, thiếc... Công nghệ khai thác các loại quặng này ở Việt Nam hiện nay còn rất thô sơ, chủ yếu là thủ công. Đặc biệt là các đơn vị khai thác tư nhân và nạn khai thác trái phép, nên thiếu đầu tư thiết bị, cũng như không có kỹ thuật khai thác, do đó tình hình tai nạn lao động xảy ra rất nghiêm trọng.

 Tuy nhiên, do việc quản lý khai thác các loại quặng này còn lỏng lẻo, nên tai nạn lao động thường không được khai báo, điều tra. Chỉ khi xảy ra những vụ tai nạn lao động chết người nghiêm trọng, các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương mới có được thông tin.

Trong khai thác than, nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn lao động là do ý thức, nhận thức của cả người sử dụng và người lao động chưa đáp ứng yêu cầu. Người sử dụng lao động, cán bộ quản lý, giám sát thiếu chặt chẽ, chất lượng thấp; người lao động thiếu tác phong công nghiệp, vi phạm quy trình, quy phạm. Thiết kế thi công khai thác còn thiếu các biện pháp an toàn lao động cụ thể, cán bộ chỉ đạo sản xuất và giám sát an toàn thiếu kỹ năng đánh giá rủi ro và đề ra các biện pháp an toàn cho từng ca sản xuất, khu vực sản xuất. Nhiều vụ tai nạn lao động chưa được thống kê, phân tích nguyên nhân và đề ra các biện pháp phòng ngừa cụ thể; hiệu quả của công tác kiểm tra, thanh tra thấp và xử lý vi phạm chưa nghiêm.

Trong khai thác than, nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn lao động là do ý thức, nhận thức của cả người sử dụng và người lao động chưa đáp ứng yêu cầu

Cần những biện pháp mạnh mẽ

Để đạt được mục tiêu đưa ngành công nghiệp khai thác khoáng sản trở thành một ngành có trình độ công nghệ đạt trình độ khu vực, có đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, đội ngũ công nhân lành nghề và hoạt động khai thác khoáng sản bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, đạt tiêu chuẩn môi trường; chấm dứt khai thác thủ công, không đảm bảo các điều kiện an toàn lao động, lãng phí tài nguyên và hủy hoại môi trường và giảm 6% tần suất tai nạn lao động trong khai thác mỏ trong giai đoạn 2016-20201, ở các cấp độ quản lý cần thiết phải thiết lập hệ thống kiểm soát rủi ro, nguy cơ mất an toàn trong khai thác mỏ, trên cơ sở những quy định về kiểm soát rủi ro tại nơi làm việc quy định tại Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Theo đó, ở cấp độ doanh nghiệp có bộ phận an toàn, vệ sinh lao động (bao gồm cả hệ thống giám sát an toàn trên công trình), bộ phận y tế, an toàn, vệ sinh viên,  Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở; lập kế hoạch ATVSLĐ, tiến hành đánh giá rủi ro tại nơi làm việc, lập kế hoạch ứng cứu khẩn cấp, tổ chức lực lượng ứng cứu, tự kiểm tra, thống kê, báo cáo về ATVSLĐ.

Đảm bảo các thiết kế thi công phải có các biện pháp an toàn cụ thể, chi tiết cho từng khai trường, khu vực sản xuất; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giám sát an toàn, quản đốc, phó quản đốc, trực ca về các kiến thức an toàn - vệ sinh lao động, đánh giá và phân tích rủi ro trong đào, chống lò và các biện pháp an toàn lao động mẫu cụ thể, chi tiết.

Đồng thời, áp dụng công nghệ tiên tiến đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường như thay việc phá vỡ đất đá bằng khoan nổ mìn bằng máy xới làm tơi đất đá ở những mỏ có điều kiện thích hợp; sử dụng công nghệ phá vỡ đá quá cỡ bằng búa đập thủy lực; loại bỏ công nghệ bốc xúc thủ công, triển khai vận tải bằng băng tải, đường ống; trong khai thác hầm lò, thay thế vì chống gỗ bằng vì chống thủy lực, dàn chống tự hành; phát triển áp dụng chống lò bằng vì neo, bê tông phun, vì neo dẻo cốt thép; áp dụng cơ giới hóa khấu than bằng máy khấu combai, máy bào than; áp dụng công nghệ khí hóa than dưới lòng đất; Thống kê, báo cáo và điều tra, phân tích đầy đủ các vụ tai nạn lao động, sự cố và phổ biến định kỳ trong các cuộc giao ca, giao ban an toàn hoặc hội nghị an toàn.

Ở cấp độ quản lý nhà nước có cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các cấp, Hội đồng quốc gia và Hội đồng cấp tỉnh về an toàn, vệ sinh lao động. Các chủ thể này sẽ thực hiện việc xây dựng, ban hành văn bản pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch về an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức thực thi pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động và thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.

 Đảm bảo việc khai thác các loại khoáng sản phải được khảo sát, thăm dò và thiết kế khai thác đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn quy định và phải được các cơ quan tổ chức có thẩm quyền phê duyệt; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm.

Ngoài ra, cần phân tích, đánh giá rủi ro để có biện pháp ngăn chặn tai nạn lao động, tổ chức bộ máy công tác an toàn, vệ sinh lao động, đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại. Chẳng hạn, nhiều mỏ đá, người lao động phải làm việc thủ công, cheo leo trên vách núi, nổ mìn không bảo đảm. Nhưng khi có doanh nghiệp đầu tư máy cưa đá bằng dây có gắn kim cương thay vì khoan nổ mìn thì an toàn cho người lao động đã được bảo đảm tốt hơn.

Đặc biệt, cần thiết xây dựng hệ thống kiểm soát nguy cơ, rủi ro trong các doanh nghiệp mỏ ở Việt Nam./.

Hồng Ánh
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan