Cập nhật ngày 31/01/2017 - 07:37:31

           

Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh: Con đường hướng tới thực hiện thỏa thuận Paris

Thời gian qua, cộng đồng quốc tế và Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), đặc biệt là với các cam kết tại Bản thỏa thuận toàn cầu được chính thức thông qua Hội nghị lần thứ 21 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21), ngày 29/11/2015 tại Paris.

Bài viết sẽ trình bày về cam kết của cộng đồng quốc tế và Việt Nam tại COP21, cũng như các giải pháp để thực hiện các cam kết này ở Việt Nam, trong việc triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh.

Các cam kết chủ yếu tại COP21

Hội nghị COP21 hướng tới việc kết thúc tiến trình đàm phán theo Định hướng Durban (được thống nhất tại Hội nghị COP17 ở Durban (Nam Phi), năm 2011). Trong đó, việc xây dựng và thông qua Thỏa thuận toàn cầu về BĐKH, bắt đầu có hiệu lực từ sau năm 2020 áp dụng cho tất cả các quốc gia với nhiều nội dung rất quan trọng liên quan đến Việt Nam, như: các vấn đề tài chính giai đoạn sau năm 2020; tính công bằng và xác định mức độ (phân biệt) về trách nhiệm; kỳ vọng giảm nhẹ; các hành động ứng phó với BĐKH và hỗ trợ cho giai đoạn trước năm 2020; đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC).

Lãnh đạo nhà nước, chính phủ của 150 quốc gia đã đưa ra các cam kết chính trị và hỗ trợ tài chính để cộng đồng thế giới đạt được một thỏa thuận toàn cầu có tính ràng buộc pháp lý với kỳ vọng lớn và hiệu quả cao hơn nhằm đạt được mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu dưới 2oC, hoặc thấp hơn. Đến nay, Thỏa thuận đã chính thức có hiệu lực sau khi có sự tham gia phê chuẩn của hơn 55 quốc gia có tổng lượng phát thải khí nhà kính, chiếm hơn 55% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu.

Tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định cam kết chính trị mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam tiếp tục cùng cộng đồng quốc tế chung tay nỗ lực ứng phó với BĐKH. Là một nước đang phát triển, còn nhiều khó khăn, chịu tác động nặng nề của BĐKH, Việt Nam cam kết giảm 8% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030 và có thể giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế. Đồng thời, Việt Nam sẽ xem xét định kỳ để điều chỉnh mục tiêu phù hợp với điều kiện thực tế của mình. Cam kết của Việt Nam sẽ được triển khai thực hiện trên nhiều lĩnh vực trong phạm vi cả nước thông qua các chiến lược, kế hoạch hành động nhằm thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính thông qua việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh.

Trên cơ sở các cam kết đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2053/QĐ-TTg, ngày 28/10/2016 ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH. Nội dung của Kế hoạch bao gồm 68 hoạt động được chia thành các nhóm nhiệm vụ, sau: (i) Nhiệm vụ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; (ii) Nhiệm vụ thích ứng với BĐKH; (iii) Nhiệm vụ chuẩn bị nguồn lực; (iv) Nhiệm vụ thiết lập hệ thống công khai minh bạch; (v) Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách thể chế. 68 hoạt động trên được phân thành các hoạt động ưu tiên thực hiện và khuyến khích thực hiện, các nhiệm vụ thực hiện giai đoạn 2016–2020.  

Chiến lược tăng trưởng xanh – Con đường thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH

Về mục tiêu

Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/09/2012 đã đưa ra ba nhiệm vụ chủ yếu là: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8%-10% so với mức 2010 cho giai đoạn 2011-2020; Xanh hóa sản xuất; Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Để triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch Hành động Quốc gia về tăng trưởng xanh tại Quyết định 403/QĐ-TTg, ngày 20/03/2014, với 66 hoạt động theo 12 nhóm nhiệm vụ theo các chủ đề: Rà soát thể chế cho tăng trưởng xanh; Rà soát các quy hoạch tổng thể, như: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành; Thúc đẩy chuyển giao công nghệ; Tạo cơ hội kinh doanh cho phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác công tư (PPP); Rà soát các chính sách tài khóa và phân bổ tài chính.

Các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, cũng như kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh hoàn toàn phù hợp với cam kết “Đóng góp do quốc gia tự quyết định” (Nationally Determined Contribution - NDC) và kế hoạch của Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH. Đối với mục tiêu giảm phát thải, Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh đề ra mục tiêu giảm cường độ phát thải 8%-10% năm đến năm 2020 và có thể tăng gấp đôi với tài trợ từ bên ngoài, trong khi Cam kết NDC của Việt Nam là giảm 8% mức phát thải và tăng lên 25% với hỗ trợ quốc tế (Bảng 1).

Bảng 1: Cam kết giảm phát thải của Việt Nam tại COP21

Nguồn: Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam

Bảng 2: Tính toán giảm cường độ phát thải của Việt Nam

 

Nguồn: Báo cáo Nghiên cứu các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính , phục vụ xây dựng chiến lược Quốc  gia về tăng trưởng xanh

Cách tính toán mục tiêu giảm phát thải của Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh dựa trên mô hình đường cong chi phí giảm thải cận biên (MACC) với số liệu từ 09 ngành công nghiệp và tiêu dùng trong khi mục tiêu giảm phát thải trong cam kết NDC bao gồm cả ngành nông nghiệp và lâm nghiệp (Bảng 2). 

Về thời gian, Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh đặt mục tiên đến năm 2020 trong khi cam kết NDC đặt mục tiêu đến 2030. Tuy khác nhau về phương pháp tính, số liệu và thời gian thực hiện, nhưng có thể thấy rằng, mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh sẽ được triển khai thực hiện sớm hơn mục tiêu của cam kết NDC và có liên hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Việc hoàn thành mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh sẽ góp phần hoàn thành sớm hơn mục tiêu của cam kết NDC.

Về kế hoạch hành động

Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh và việc triển khai thực hiện mục tiêu của NDC đều được thực hiện thông qua các kế hoạch hành động đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hai kế hoạch hành động này có những điểm trùng hợp, cũng như khác biệt về phạm vi và thời gian triển khai thực hiện. Kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu của NDC bao gồm các hoạt động cho mục tiêu thích ứng với BĐKH và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Thời gian thực hiện sẽ chia ra các hoạt động ưu tiên thực hiện, khuyến khích thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và giai đoạn sau 2020 đến 2030. Còn Kế hoạch Hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh chỉ tập trung thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong giai đoạn đến 2020 và định hướng cho giai đoạn sau 2020. So sánh có thể thấy, Kế hoạch Hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh chiếm 55% các nhiệm vụ trong Kế hoạch Hành động thực hiện cam kết NDC và sẽ giúp hoàn thành 100% các nhiệm vụ giảm phát thải khí nhà kính, cũng như các nhiệm vụ tổ chức thực hiện như đã cam kết tại NDC.

Thực tế triển khai Chiến lược trong mối liên hệ với NDC và các lưu ý

Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch Hành động Quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai nhiều hoạt động trên các lĩnh vực. Trong đó, ưu tiên lồng ghép BĐKH và tăng trưởng xanh vào các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương giai đoạn 2016-2020. Trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 ở cấp quốc gia và cấp bộ, địa phương, ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh được coi là một nội dung quan trọng, có tính chất xuyên suốt.

Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 142/2016/QH13, ngày 12/04/2016 về Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 với nhiều chỉ tiêu thuộc phạm vi của Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, đó là: Tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1%-1,5%/năm; Tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý năm 2020 là 85%; Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý năm 2020 là 95%-100%; Tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 42%. Việc thực hiện các nội dung này góp phần thực hiện thành công Chiến lược này và cam kết NDC của Việt Nam.

Bảng 3: Quy trình xây dựng kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh

Hiện nay, việc xây dựng các kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh được tiến hành trên cơ sở đánh giá các chiến luợc, quy hoạch, kế hoạch của các bộ, ngành, địa phương, thu thập các số liệu thống kê về các ngành tiêu thụ nhiều tài nguyên và phát thải lớn. Quy trình này được thực hiện như Hình.

Phân tích SWOT và mô hình chi phí giảm phát thải cận biên sẽ được sử dụng để phân tích mức độ phát thải của bộ, địa phương theo kịch bản phát triển thông thường và kịch bản phát triển có lồng ghép thực hiện kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cấp ngành và cấp địa phương.

Trên cơ sở kết quả phân tích, cơ quan đầu mối thực hiện kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh của ngành/địa phương sẽ đưa ra các kiến nghị về điều chỉnh chính sách, định hướng ưu tiên phát triển các ngành và đề xuất danh mục các dự án ưu tiên thực hiện nhằm giảm phát thải, cũng như dự kiến nguồn lực huy động từ ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ phát triển và khu vực tư nhân.

Đến cuối năm 2016, đã có 6 bộ và 10 tỉnh phê duyệt kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh, 20 địa phương khác đang triển khai xây dựng và sẽ phê duyệt trong thời gian tới.

Một nhiệm vụ quan trọng được đề ra trong Kế hoạch Hành động thực hiện NDC, cũng như Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh là xác định nhu cầu và cơ chế huy động nguồn lực. Trong thời gian qua, để đánh giá mức độ chi tiêu cho BĐKH, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện đánh giá chi tiêu công cho BĐKH và tăng trưởng xanh ở Việt Nam (CPEIR) giai đoạn 2010-2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng 20% chi tiêu ngân sách hàng năm ở các bộ và địa phương đã được phân bổ cho các chương trình, dự án và hoạt động liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh (15% cho ứng phó với BĐKH và 5% cho tăng trưởng xanh). Điều này thể hiện sự nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ưu tiên phân bổ cho các hoạt động khắc phục hậu quả của thiên tai, bão lũ; trong khi đối với các dự án tăng trưởng xanh, ngân sách nhà nước bao gồm cả ODA sẽ đóng vai trò là chất xúc tác thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân.

Để có thể thu xếp nguồn lực thực hiện các kế hoạch hành động, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hiện đang hướng dẫn các bộ và địa phương đánh giá chi tiêu công cho BĐKH và tăng trưởng xanh ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020.

Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện đánh giá chi tiêu của khu vực tư nhân cho BĐKH và tăng trưởng xanh ở Việt Nam (CPrEIR) giai đoạn 2010-2015, làm căn cứ đề xuất các giải pháp thu hút đầu tư tư nhân cho giai đoạn tới.

Trong quá trình xây dựng Kế hoạch Đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã phối hợp với các bộ ngành và địa phương xác định nhu cầu vốn cho BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020. Nhu cầu vốn cho BĐKH và tăng trưởng xanh được xác định trên cơ sở chi phí cần thiết để khắc phục hậu quả do BĐKH gây ra và chi phí cần thiết để giảm phát thải khí nhà kính theo các cam kết của Việt Nam.

Cụ thể, theo đánh giá từ các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, hàng năm Việt Nam phải gánh chịu thiệt hại do hậu quả của BĐKH khoảng 2%-6% GDP. Nếu lấy mức trung bình thiệt hại từ BĐKH là 4% GDP, thì trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam cần khoảng 47 tỷ USD cho mục tiêu thích ứng với BĐKH.

Đối với các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh xác định Việt Nam cần khoảng 30 tỷ USD để thực hiện các cam kết, trong đó khoảng 30% là từ ngân sách nhà nước (9 tỷ USD). Trong cam kết NDC, 17,9 tỷ USD được xác định huy động từ các nguồn lực bên ngoài.

Mặt khác, Kế hoạch Đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 dự kiến phân bổ vốn cho 21 chương trình mục tiêu và 2 chương trình mục tiêu quốc gia. Tính toán sơ bộ nguồn vốn cho các chương trình mục tiêu liên quan đến BĐKH và tăng trưởng xanh là khoảng 24 tỷ USD.

Như vậy, cả hai kịch bản về cam kết giảm phát thải của Việt Nam và mục tiêu ứng phó với BĐKH cho thấy, Việt Nam cần huy động một lượng vốn khoảng từ 31,85-40,75 tỷ USD cho giai đoạn 2016-2020 (Bảng 4). Đây là một mục tiêu rất quan trọng đảm bảo sự thành công của việc thực hiện cam kết NDC.

Bảng 4: Nhu cầu vốn đầu tư cho BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Có thể thấy rằng, cam kết NDC của Việt Nam tại Hội nghị COP21 năm 2015 thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ đối với nỗ lực ứng phó BĐKH, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong thời gian tới.

Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính cụ thể đến năm 2020 là con đường cụ thể hoá các cam kết NDC của Việt Nam. Những nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương trong việc lồng ghép BĐKH và tăng trưởng xanh vào các quy hoạch, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị. Các kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh của các bộ và địa phương đã và đang được xây dựng chính là sự hiện thực hóa các giải pháp thực hiện cam kết NDC của Việt Nam.

Mặc dù các cam kết NDC có thời hạn hoàn thành vào năm 2030, nhưng thực tiễn triển khai các kế hoạch hành động tăng trưởng xanh thời gian qua chứng minh Việt Nam sẽ sớm hoàn thành các cam kết với cộng đồng quốc tế về ứng phó với BĐKH./.

TS. Phạm Hoàng Mai; ThS. Nguyễn Thị Diệu Trinh (Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 02+03/2017
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan