Cập nhật ngày 27/03/2017 - 23:12:25

           

“Thông tin không có bằng chứng cụ thể sẽ dễ gây tâm lý hoảng loạn!”

- Đây là nhận xét của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), tại lễ công bố Báo cáo “Quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam” (Báo cáo), do Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức sáng 27/3.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại Hội nghị

Ô nhiễm thực phẩm ở Việt Nam còn tương đối phổ biến

Ngày 27/3, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế tổ chức công bố báo cáo quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam, những thách thức và cơ hội.

Nghiên cứu của WB tại Việt Nam tập trung vào chuỗi giá trị của thịt lợn và rau ăn lá để tìm các nguy cơ ATTP tại Việt Nam, thời gian thực hiện nghiên cứu là từ tháng 8/2016 đến tháng 2/2017. 
Theo báo cáo, hiện tại Việt Nam có khoảng 80% thịt lợn và 85% rau được bày bán tại các chợ bán lẻ truyền thống và những người sản xuất nhỏ chiếm ưu thế trong chuỗi giá trị, trong đó 76% lợn được giết mổ trong các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ với điều kiện vệ sinh kém. 
Báo cáo của WB cũng khẳng định, hiện có bằng chứng khoa học cho thấy, ô nhiễm thực phẩm ở Việt Nam còn tương đối phổ biến.

Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ nhiễm mối nguy hại vi sinh vật như salmonella trong thực phẩm nói chung và thịt lợn nói riêng vẫn còn tương đối cao (tương ứng khoảng 30%-40%). 

Bên cạnh đó, việc lạm dụng các hóa chất đầu vào trong nông nghiệp cũng là một thách thức không nhỏ.

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các loại kháng sinh tràn lan trên diện rộng cũng tăng nguy cơ để lại tồn dư trong thực phẩm.  
WB cũng chỉ ra rằng, một số chất kích thích tăng trưởng, chất cấm trong chăn nuôi cũng được sử dụng làm chất tạo nạc vẫn tương đối phổ biến, chưa kể, nhiễm bẩn kim loại nặng và và các chất hữu cơ bền vững trong môi trường, trong đó có dioxin cũng được ghi nhận tại một số địa phương. 
“Hệ thống giám sát hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào các sự kiện, ví dụ thống kê các vụ ngộ độc. Chưa kể theo báo cáo, hiện đã có một số phòng xét nghiệm của nhà nước, viện nghiên cứu và tư nhân với năng lực kỹ thuật, tương đối tốt và phần lớn được chứng nhận, song thông tin về thực tế vận hành của các phòng xét nghiệm vẫn còn hạn chế. Mỗi năm có hàng trăm nghìn mẫu thực phẩm được phân tích nhưng thông tin về các kết quả xét nghiệm, mức độ tin cậy và tính đại diện của các mẫu xét nghiệm lại không được báo cáo một cách có hệ thống”, báo cáo WB chỉ rõ.

Người tiêu dùng có xu hướng quan tâm, lo lắng nhiều đối với thực phẩm nhiễm bẩn hóa chất và độc tố hơn là với các nguy cơ từ nhiễm vi sinh vật. Tuy nhiên, nghiên cứu của các chuyên gia từ WB cho thấy nguyên nhân chính gây ra các bệnh truyền qua thực phẩm là do nhiễm bẩn vi sinh vật, chứ chưa phải do tồn dư hóa chất.

Đáng chú ý, dù các kết quả nghiên cứu có vẻ như vấn đề ATTP ở Việt Nam đáng báo động, nhưng thực tế có rất ít hoặc không có bằng chứng khoa học để đánh giá đúng gánh nặng bệnh tật do mất ATTP gây ra.

Đánh giá hệ thống pháp luật về VSATTP, Báo cáo cho rằng Việt Nam đã xây dựng một khung pháp lý hiện đại, nhưng trên thực tế, hiệu lực, hiệu quả trong triển khai các cơ chế, chính sách quản lý ATTP ở Việt Nam chưa như mong muốn.

Trong các khuyến nghị được đưa ra, nhóm chuyên gia WB nhấn mạnh mối quan tâm, lo lắng của cộng đồng đối với ATTP là một vấn đề quan trọng và có thể sẽ càng trở nên trầm trọng hơn nếu Chính phủ không có những hành động kịp thời.

Báo cáo lưu ý việc hầu hết thực phẩm tươi sống được bán ở các chợ và thường chỉ qua sơ chế cho thấy chuỗi giá trị thực phẩm ở Việt Nam có thời gian ngắn, do vậy có thể thực hiện những giải pháp khắc phục có hiệu quả ngay như: Áp dụng các thực hành tốt trong sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ; thay đổi thói quen chế biến, tiêu dùng thực phẩm; truy xuất nguồn gốc; phát triển các công nghệ và quy trình xét nghiệm nhanh đối với thực phẩm…

Về lâu dài, Báo cáo đề nghị cần không ngừng củng cố hệ thống chăn nuôi sản xuất theo hướng quy mô lớn, thực hành tốt; kiểm soát chặt chất lượng “đầu vào”…

Cùng với đó, cần xây dựng hệ thống đánh giá, quản lý nguy cơ, rủi ro về ATTP qua việc tăng cường hệ thống theo dõi và giám sát ATTP quốc gia, nâng cao công tác quản lý số liệu nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp bằng chứng về các nguy cơ ATTP là cơ sở ra các quyết định liên quan đến vấn đề này.

“Không có một biện pháp đơn lẻ nào để giải quyết được mọi vấn đề an toàn thực phẩm. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nhiều phương án thử nghiệm dược phối hợp với nhau đúng cách sẽ góp phần từng bước cải thiện mức độ bảo đảm ATTP”, Báo cáo nhấn mạnh.

ATTP đòi hỏi phải có số liệu, bằng chứng thuyết phục

Đánh giá cao những khuyến nghị của WB, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao đổi thêm với các chuyên gia về mối quan tâm của người dân Việt Nam đối với vấn đề ATTP đòi hỏi phải có số liệu, bằng chứng thuyết phục rõ ràng và những giải pháp xử lý mạnh tay, quyết liệt, nhất là ở cấp cơ sở xã, phường.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh sự cần thiết đưa ra các bằng chứng trong vấn đề VSATTP bởi nếu “thông tin không có bằng chứng cụ thể sẽ dễ gây tâm lý hoảng loạn hoặc không tin tưởng vào các giải pháp đã đưa ra”.

“Chúng ta không thể đơn thuần nói có bao nhiêu phần trăm thực phẩm không an toàn mà phải có máy móc, đo lường, khảo sát để chỉ cho người dân thấy nếu không sẽ có nghi ngờ liệu có phải tất cả thực phẩm đều nhiễm bẩn hay không”, Phó Thủ tướng nói và đề nghị cần có cơ chế để tất cả các phòng thí nghiệm (không phân biệt Nhà nước hay tư nhân) tham gia vào xét nghiệm thực phẩm.

Theo Phó Thủ tướng, Vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam là liên quan tới thực phẩm tiêu dùng trong nước, trong đó phần nhiều do các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ cung cấp.

Đây là “điểm đặc biệt” trong bảo đảm ATTP ở Việt Nam và các giải pháp đã tập trung chủ yếu vào khu vực này.

Trong đó, một mặt cần nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng mặt khác tuyên truyền, vận động nhân dân, để mỗi người phải có ý thức tuân thủ pháp luật về sản xuất, chế biến, cung cấp các thực phẩm an toàn; tuyên truyền về luân lý, đạo đức trong sản xuất, kinh doanh. 

Bình luận về khuyến nghị của Báo cáo nhấn mạnh đến tập trung kiểm soát chất lượng “đầu vào” của chuỗi giá trị thực phẩm, Phó Thủ tướng cho rằng, về lý thuyết điều này là hoàn toàn đúng nhưng trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay cần phải có những bước có tính thời điểm, nhưng rất quan trọng là kiểm tra “đầu ra”, thậm chí có những phương tiện lưu động để kiểm tra nhanh ngay tại các chợ, để người dân biết và có thói quen tiêu dùng thực phẩm an toàn.

Đồng tình với nhận định được nêu trong Báo cáo về trong việc phân biệt thực phẩm nhiễm vi sinh vật và nhiễm hóa chất, Phó Thủ tướng cho rằng sản xuất, chế biến, cung ứng theo chuỗi, quy mô lớn với sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ khắc phục được vấn đề này.

Ngoài ra, quản lý theo chuỗi cũng đã được quy định rất rõ trong Luật An toàn Thực phẩm với việc phân công mỗi bộ (Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương) quản lý một số nhóm mặt hàng thực phẩm từ khâu đầu cho đến khâu cuối theo đúng cách tiếp cận quốc tế.

Với đặc điểm của Việt Nam, với hệ thống luật pháp đã tương đối đầy đủ tốt và đúng hướng, đúng xu thế, Phó Thủ tướng cho rằng điều quan trọng nhất là tăng cường năng lực thực thi không chỉ ở cấp Trung ương và cấp tỉnh mà nhất là cấp cơ sở. Bởi quy mô sản xuất, cung ứng thực phẩm tiêu dùng nội địa vẫn nhỏ lẻ nên chỉ những người ở tận xã, phường “mới biết cụ thể, tường tận ở chỗ mình như thế nào”, vận động bà con, nông dân ra sao.

“Cách tiếp cận, hướng đi của Việt Nam trong công tác VSATTP đã đúng. Quan trọng là phải tăng cường năng lực thực hiện nhằm vào một số khâu, việc trọng điểm trong thời điểm hiện nay”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh/.

An Nhi
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan