Cập nhật ngày 02/12/2016 - 14:09:39

           

Phải gỡ "sạn" ngay trong thị trường xuất khẩu lao động

- Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, tính đến cuối tháng 11/2016 đã có 108.530 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đạt 108% kế hoạch năm và tương đương với cùng kỳ năm 2015. Song, đằng sau những con số đáng mừng đó, cũng có không ít vấn đề cần có giải pháp khắc phục.

Không ít vấn đề trong xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) những năm qua có những bước tiến khả quan trong lĩnh vực mang lại giá trị kinh tế không nhỏ này. Kết quả ấy là nhờ nỗ lực triển khai nhiều biện pháp của các cơ quan quản lý, tuyển dụng, nhằm ổn định, mở rộng và phát triển thị trường tiếp nhận lao động. Việc tuyên truyền ý thức và nâng cao hiểu biết của người dân cũng từng bước được tăng cường.

Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã được cơ quan chức năng rà soát chặt chẽ, quan tâm đúng mức hơn. Nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra được thực hiện và đã xử phạt vi phạm hành chính đối với nhiều lượt doanh nghiệp vi phạm các quy định về đưa người đi xuất khẩu lao động.

Tuy nhiên, dù có những nỗ lực song dường như vẫn chưa đủ để thị trường XKLĐ phát triển bền vững và bảo đảm lành mạnh, không xảy ra những sự cố làm xấu hình ảnh người lao động Việt Nam.

Trước tiên là sai phạm ở các doanh nghiệp đưa người lao động. Ngày 23/11/2016, Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết đã ra quyết định xử phạt nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Sai phạm nhiều nhất là doanh nghiệp đưa lao động sang thị trường Ả Rập Xê Út. Trong đó, Công ty cổ phần quốc tế IDC bị phạt 175 triệu đồng do lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn người đi làm giúp việc gia đình. Tổng Công ty thép Việt Nam (VN STEEL) bị xử phạt 165 triệu đồng do vi phạm đưa người lao động đi làm việc khi chưa được Cục Quản lý lao động ngoài nước chấp thuận. Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 (CIENCO 1) không báo cáo danh sách lao động trước khi xuất cảnh, bị xử phạt 72,5 triệu đồng...

Tiếp đó là tình trạng lao động bỏ trốn vẫn rất nhức nhối, nhất là ở Đài Loan. Tình trạng này tồn tại trong nhiều năm qua, đây là nguyên nhân dẫn đến việc phía Đài Loan có những lúc đã không cấp phép cho doanh nghiệp mới hoạt động đưa lao động sang, đồng thời dừng việc gửi và tiếp nhận lao động Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, vào cuối năm 2015, có tới hơn 1000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Đài Loan bỏ trốn mỗi tháng, nguyên nhân là do nhiều người bị cò mồi, môi giới lừa đảo đi XKLĐ Đài Loan lương thấp, công việc thì nặng nhọc v.v... Trong đó, 70% đến 80% là những lao động sắp hết hạn hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài với mục đích muốn ở lại và kiếm thêm thu nhập.

Bỏ trốn cũng đồng nghĩa trở thành lao động phi pháp nên những rủi ro mà người lao động gặp phải là không thể tránh khỏi. Thực tế, đã có nhiều lao động bỏ trốn phải sống chui lủi nơi xứ người; do phải trốn tránh cơ quan chức năng sở tại, nhiều người không dám đi khám bệnh lúc ốm đau và đương nhiên sẽ không được nhận các chế độ bảo hiểm, đến khi hối hận thì đã bị trục xuất về nước.

Ở Nhật Bản còn xảy ra tình trạng nhiều thực tập sinh phải chịu chi phí cao trước khi đi thực tập, thậm chí tới mức 5.000 USD. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng thực tập sinh bỏ trốn khỏi nơi làm việc để đi làm nơi có mức thu nhập cao hơn... Những việc làm bất hợp pháp này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới quan hệ hợp tác lao động của cả quốc gia, làm giảm uy tín của thị trường Việt Nam. Đồng thời tước mất cơ hội cải thiện đời sống của hàng ngàn lao động khác. Đó là bài học lớn mà người lao động phải rút kinh nghiệm, các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để tình trạng làm “mất điểm” đó giảm càng nhanh càng tốt.

Theo tìm hiểu, bản thân nhiều người đã trải qua quá trình lao động nghiêm túc, về nước đúng hạn và tiếp tục được ký hợp đồng lại từ phía công ty nước ngoài khẳng định, việc tạo dựng uy tín thì điều cốt yếu nhất xuất phát từ phía người lao động, phải vượt qua những ham muốn cá nhân. Song điều đáng nói, đa số nhân công nước ta có tâm lý chung là ngại học tập, thích làm việc ở nơi trả lương cao, thủ tục xuất cảnh nhanh, chi phí thấp.

Cần đồng bộ nhiều giải pháp

Để thị trường trở nên lành mạnh, phải xốc lại công tác quản lý hoạt động XKLĐ; tuyên truyền, phổ biến ý thức kỷ luật, đào tạo kỹ năng cho người lao động và chấn chỉnh hoạt động lộn xộn, “ăn xổi” của các doanh nghiệp. Tiếp đó là một chiến lược dài hơi về công tác đào tạo để không chỉ tăng về số lượng, mà chất lượng cũng cần được nâng lên.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng cần kiểm soát, giám sát quy trình đào tạo của các doanh nghiệp chặt chẽ hơn. Sở Thương binh và Xã hội ở các tỉnh cần phối hợp cùng các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, rà soát, xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân đưa lao động đi làm việc trái phép. Ngoài ra, nên thành lập “Quỹ hỗ trợ khuyến khích xuất khẩu lao động và bảo đảm rủi ro” để hỗ trợ cho những người XKLĐ bị tai nạn, bị phá vỡ hợp đồng...

XKLĐ là hoạt động góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho nhiều người dân, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước và nhiều lợi ích kinh tế khác. Chất lượng nguồn lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất cho sự thắng thế trong cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế. Trong khi đó, để có được nguồn lao động chất lượng cao, đồng nghĩa với việc cả hệ thống từ người dân có nhu cầu XKLĐ, công ty cung ứng, nhà quản lý trong và ngoài nước cần tuân thủ các quy tắc, hoạt động có nền nếp, tạo ra một thương hiệu về chất lượng nguồn.

Ông Tống Hải Nam, Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, cơ quan này sẽ giám sát chặt chẽ các doanh nghiệp trong công tác tuyển chọn, đào tạo, và quản lý lao động. Lãnh đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng cho biết, hiện có sáu Ban Quản lý lao động tại các thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam, nhằm quản lý tốt hơn người lao động ở nước ngoài. Một số doanh nghiệp có số lượng lao động lớn đã phối hợp với đối tác mở văn phòng đại diện tại nước sở tại. Với những nỗ lực ấy, hy vọng hoạt động XKLĐ mau chóng đi vào nền nếp, nghiêm túc, hiệu quả hơn.

Cơ hội cho người lao động nước ta là rất lớn, nhất là khi Cộng đồng kinh tế ASEAN đã được thành lập vào cuối năm 2015, song những thách thức cũng không hề nhỏ, bởi phải cạnh tranh trong thị trường lao động quốc tế. Chúng ta phải khẩn trương khắc phục những yếu điểm trong công tác XKLĐ mới có thể đứng vững ở các thị trường./.

Anh Đức
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan