Cập nhật ngày 22/01/2021 - 10:56:38

           

Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP theo cách tiếp cận hiện đại

- Sự kết hợp giữa phương pháp DEA và SFA trong đánh giá, đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP cho ra những tham số đáng tin cậy hơn.

ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền

 Trường Đại học Tài chính Kế toán

 

TÓM TẮT:

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách tiếp cận hiện đại – kết hợp giữa phương pháp phi tham số (DEA) và phương pháp tham số (SFA) để đánh giá, đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của 29 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam giai đoạn 2013-2018. Kết quả cho thấy, hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng trong giai đoạn này vẫn còn thấp, với 50% số lượng ngân hàng trong mẫu nghiên cứu có hiệu quả dưới mức trung bình. Ngoài ra, các ngân hàng  vẫn còn lãng phí và sử dụng chưa hiệu quả các nguồn lực đầu vào. Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá một cách khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTMCP trong 6 năm, đồng thời, đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống thời gian tới.

Từ khóa: hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, tiếp cận hiện đại

 

GIỚI THIỆU

Việt Nam là một nước đang phát triển, với sức ép cạnh tranh và thách thức to lớn đến từ các cam kết mở cửa và hội nhập, vì vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) của hệ thống NHTMCP Việt Nam hiện nay trở thành một vấn đề vô cùng cấp thiết. Tuy nhiên, vì hiệu quả HĐKD là một phạm trù phức tạp, nhất là đối với lĩnh vực ngân hàng với các mối quan hệ đa chiều giữa đầu vào và đầu ra, nên việc đánh giá hiệu quả HĐKD của các ngân hàng cần được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhằm mang đến cái nhìn khách quan về thực trạng hiệu quả và chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Để đánh giá HQKD của ngân hàng, phương pháp tiếp cận truyền thống thông qua việc phân tích các chỉ tiêu tài chính thường được các nhà nghiên cứu sử dụng. Tuy nhiên, Berger và cộng sự (1993) cho rằng, các chỉ số tài chính có thể đem đến những đánh giá sai lệch, vì không kiểm soát được giá các yếu tố đầu vào. Còn theo Tripe và Thomas (2007), các chỉ số tài chính không tính đến sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng, phản ánh trong các cách kết hợp đầu vào và đầu ra khác nhau.

Vì vậy, hiện nay ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, việc sử dụng phương pháp tiếp cận hiện đại với việc xây dựng đường biên hiệu quả ngày càng được ưa chuộng. Với cách tiếp cận hiện đại, hiệu quả được ước tính bằng các kỹ thuật lập trình toán học với tính đa chiều hơn, từ đó đưa ra kết quả có ý nghĩa và đáng tin cậy hơn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết 

Theo cách tiếp cận hiện đại, các phương pháp tiếp cận hiệu quả biên có thể được chia làm 2 kỹ thuật ước lượng chính: (i) Phương pháp tham số; và (ii) Phương pháp phi tham số. Khi nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của NHTM, cách tiếp cận tham số được các tác giả sử dụng phổ biến nhất là phân tích biên ngẫu nhiên (SFA - Stochastic frontier analysis) và cách tiếp cận phi tham số là phân tích bao dữ liệu (DEA - Data Envelopment Analysis). Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã cố gắng kết hợp hai phương pháp SFA và DEA với mong muốn tận dụng được thế mạnh của cả hai phương pháp trong việc ước tính hiệu quả HĐKD của NHTM. Đây cũng là hướng nghiên cứu của tác giả.

Phương pháp DEA

Đây là phương pháp sử dụng kỹ thuật quy hoạch tuyến tính để hình thành nên một tập hợp biên các ngân hàng hoạt động hiệu quả trong mẫu, so sánh các ngân hàng không đạt hiệu quả biên, từ đó đo mức độ hiệu quả. Phương pháp DEA có thể được dùng để xem xét hiệu quả của một ngân hàng theo thời gian hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động tương đối của một ngân hàng so với các ngân hàng khác. Các độ đo hiệu quả sử dụng trong phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) bao gồm:

(i) Hiệu quả kỹ thuật (TE): Hiệu quả kỹ thuật theo mô hình như Hình 1 được đo bằng tỷ số: TEi = OQ/OP và nhận giá trị trong khoảng từ 0 đến 1. Khi TE có giá trị bằng 1, thì ngân hàng đạt hiệu quả tối đa.

Hình 1: Hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng thương mại

Nguồn: Charnes và cộng sự, 1994

(ii) Hiệu quả quy mô (SE) đo lường bằng tỷ lệ đầu ra thay đổi khi các yếu tố đầu vào thay đổi với điều kiện công nghệ sản xuất và quản lý không thay đổi tại quy mô sản xuất tối ưu (Charnes và cộng sự, 1994). Với hiệu quả quy mô, có 2 trường hợp có thể xảy ra:

- Hiệu quả không đổi theo quy mô (Crs): lúc này tốc độ tăng quy mô đầu ra bằng tốc độ tăng chi phí đầu vào, nghĩa là ngân hàng đang hoạt động ở quy mô tối ưu.

- Hiệu quả biến đổi theo quy mô (Vrs): hiệu quả biến đổi theo quy mô xảy ra khi tồn tại phi hiệu quả về mặt quy mô.

(iii) Hiệu quả kỹ thuật thuần túy (PE): Hiệu quả kỹ thuật (TE) được phân rã thành hiệu quả kỹ thuật thuần túy (ký hiệu là PE – pure technical efficiency) và hiệu quả quy mô (SE – scale efficiency).

Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

Phương pháp này tiến hành mô tả mối quan hệ giữa các biến đầu vào và đầu ra của ngân hàng thông qua việc sử dụng một hàm số cụ thể. Dựa trên gợi ý của Farrell (1957) về ước lượng hàm sản xuất bằng cách sử dụng một hàm số, năm 1968, Aigner và Chu đã tiến hành xây dựng đường biên hiệu quả bằng cách tiếp cận tham số thông qua việc ước lượng một hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas.

Hình 2: Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên

Nguồn: Farrell, 1957

Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng cách tiếp cận hiện đại có sự kết hợp của phương pháp phi tham số (DEA) – với sự trợ giúp của phần mềm R và phương pháp tham số (SFA) – với sự trợ giúp của phần mềm STATA 14.0 để đánh giá hiệu quả HĐKD của các NHTMCP Việt Nam.

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ các báo cáo thường niên của 29 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2013-2018. Tính đến ngày 31/12/2018, toàn bộ hệ thống NHTMCP Việt Nam có 31 ngân hàng, tuy nhiên 2 ngân hàng: Đông Á và Việt Nam Thương Tín không có đủ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên trong giai đoạn 2013-2018, vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất về mặt dữ liệu, tác giả loại 2 ngân hàng này ra khỏi mẫu nghiên cứu.

Dựa trên quan điểm cho rằng ngân hàng là những doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với mục tiêu là lợi nhuận, tác giả lựa chọn cách tiếp cận “hướng về lợi nhuận” với các yếu tố đầu vào và đầu ra sử dụng trong mô hình nghiên cứu như Bảng 1.

Bảng 1: Các biến trong phân tích

                                                                Nguồn: Tác giả đề xuất

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả đánh giá hiệu quả HĐKD bằng phương pháp DEA

Sau khi lựa chọn các biến đầu vào, biến đầu ra và tiến hành thu thập số liệu từ 29 NHTMCP Việt Nam trong 6 năm (2013-2018), theo cách tiếp cận phương pháp DEA, tác giả sử dụng phần mềm R để ước lượng hiệu quả HĐKD của ngân hàng.

Phương pháp DEA được tính toán bằng cách sử dụng phương pháp tuyến tính, tìm ra ngân hàng nào có tỷ lệ đầu ra trên đầu vào tốt nhất. Trong nghiên cứu này, hiệu quả HĐKD của ngân hàng được xét trên phương diện hiệu quả kỹ thuật, xác định từ hai mô hình: hiệu quả không thay đổi theo quy mô DEA (CRS) và hiệu quả thay đổi theo quy mô DEA (VRS).

Mô hình CRS gắn với giả thiết các ngân hàng đang hoạt động ở quy mô tối ưu. Tuy nhiên, trên thực tế điều này khó xảy ra do các NHTMCP hoạt động trong điều kiện thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đồng thời có nhiều ràng buộc từ sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, mô hình VRS được xây dựng bởi Charnes and Cooper (1994) với giả thiết hiệu quả thay đổi theo quy mô được cho là mang lại kết quả đáng tin cậy hơn khi đánh giá hiệu quả HĐKD của ngân hàng.

Bảng 2: Ước lượng hiệu quả HĐKD của 29 NHTMCP giai đoạn 2013-2018

Nguồn: Tác giả thống kê từ kết quả phân tích DEA với sự hỗ trợ của phần mềm R

Kết quả phân tích như Bảng 2 cho thấy, hiệu quả kỹ thuật mô hình DEA (VRS) trung bình giai đoạn 2013-2018 của 29 ngân hàng đạt 0,617. Như vậy, để tạo ra sản lượng đầu ra cố định, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện chỉ sử dụng hiệu quả 61,7% các nguồn lực đầu vào. Nói cách khác, các ngân hàng hiện đang sử dụng không hiệu quả 38,3% các nguồn lực đầu vào.

Mặt khác, hiệu quả kỹ thuật toàn bộ là tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô (TE = PE * SE) (Nguyễn Việt Hùng, 2008). Theo đó, một ngân hàng không đạt hiệu quả kỹ thuật có thể xuất phát từ 2 nguyên nhân: thứ nhất là không hiệu quả về mặt quy mô, thứ hai là không hiệu quả về mặt kỹ thuật thuần. Vì vậy, độ lớn của các chỉ tiêu hiệu quả này sẽ phản ánh nguồn phi hiệu quả trong hoạt động của các ngân hàng. Cụ thể, kết quả tính toán hiệu quả kỹ thuật thuần trung bình mẫu thời kỳ nghiên cứu là 0,669 nhỏ hơn so với hiệu quả quy mô bình quân (0,923).

Như vậy, trong thời kỳ nghiên cứu từ năm 2013-2018, các nhân tố phản ánh quy mô hoạt động của ngân hàng đóng góp vào hiệu quả toàn bộ lớn hơn so với các nhân tố phản ánh hiệu quả kỹ thuật thuần. Điều này cũng chứng tỏ rằng, các ngân hàng đã phát huy được lợi thế về quy mô nguồn vốn, mạng lưới điểm giao dịch, lao động để nâng cao hiệu quả HĐKD. Mặt khác, kết quả cũng cho thấy, các ngân hàng chưa vận dụng được những yếu tố về mặt kỹ thuật thuần túy. Vì vậy, các NHTMCP Việt Nam hoàn toàn có thể nâng cao hiệu quả kỹ thuật toàn bộ bằng cách ứng dụng các tiến bộ công nghệ hiện đại và nâng cao trình độ quản lý (các yếu tố thuộc về mặt kỹ thuật thuần).

Kết quả đánh giá hiệu quả HĐKD bằng phương pháp SFA

Nghiên cứu này sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để đánh giá hiệu quả HĐKD của các NHTMCP Việt Nam. Kết quả phân tích được thể hiện trong Bảng 3.

Bảng 3: Kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật trung bình của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2013-2018

Nguồn: Thống kê của tác giả với sự hỗ trợ của phần mềm Stata14.0

Kết quả phân tích SFA cho thấy, hiệu quả kỹ thuật trung bình giai đoạn 2013-2018 là 0,6056; trong đó, 2013 là năm có hiệu quả kỹ thuật trung bình lớn nhất đạt 0,6381.

Kết quả phân tích hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu theo phương pháp tham số SFA sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb – Doublas được thể hiện ở Bảng 4.

Bảng 4: Kết quả ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb-Doublas

Nguồn: Tác giả phân tích số liệu thu thập từ 29 NHTMCP Việt Nam

Kết quả phân tích cho thấy yếu tố chi phí lãi có tác động ngược chiều với thu nhập lãi, thu nhập ngoài lãi, nhưng không có ý nghĩa thống kê (P>5%). Về chi phí hoạt động, yếu tố này có tác động tích cực tới hiệu quả HĐKD của ngân hàng, cụ thể là tác động tích cực lên các yếu tố đầu ra là thu nhập lãi (hệ số coef. 1,2608), thu nhập ngoài lãi (hệ số coef. 1,1576), với độ tin cậy 95%. Trong đó, chi phí hoạt động của ngân hàng bao gồm chi phí lương nhân viên, chi phí khấu hao, chi phí hoạt động khác. Như vậy, các NHTMCP Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả HĐKD bằng cách mở rộng mạng lưới hoạt động, phát triển thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ ngoài tín dụng.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

Nhìn chung, kết quả của phương pháp DEA và SFA đều cho thấy có trên 50% số ngân hàng trong tổng số 29 NHTMCP Việt Nam được thu thập trong mẫu nghiên cứu hoạt động chưa hiệu quả. Tình trạng này là do nhiều ngân hàng vẫn còn lãng phí trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra doanh thu đầu ra. Vì vậy, cần phải có giải pháp thiết thực nhằm cải thiện tình trạng lãng phí nguồn lực, từ đó nâng cao hiệu quả HĐKD của hệ thống ngân hàng nói chung và một số NHTMCP Việt Nam nói riêng.

Một số khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian tới:

Thứ nhất, kết quả phân tích DEA cho thấy, các ngân hàng chưa vận dụng được những yếu tố về mặt kỹ thuật thuần túy. Vì vậy, các NHTMCP Việt Nam cần tăng cường ứng dụng các thành tựu về kỹ thuật công nghệ vào các hoạt động ngân hàng nhằm tăng hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí hoạt động. Các ngân hàng cần đẩy mạnh hơn nữa chính sách phát triển công nghệ, cũng như đầu tư vào công nghệ hiện đại, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng cần chú trọng nâng cao trình độ quản lý và năng lực quản trị điều hành thông qua việc thay đổi tư duy về quản trị ngân hàng, tổ chức các khóa đào tạo với quy trình đào tạo, huấn luyện cập nhật nhất để nâng cao năng lực chuyên môn và trình độ quản trị.

Thứ hai, kết quả phân tích SFA cho thấy, chi phí hoạt động có tác động tích cực đến hiệu quả HĐKD ngân hàng. Như vậy, các NHTMCP Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả HĐKD bằng cách mở rộng mạng lưới hoạt động, phát triển thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ ngoài tín dụng. Các giải pháp có thể cân nhắc thực hiện, như: đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ; nâng cao chất lượng dịch vụ phi tín dụng; hoạch định chiến lược phát triển và sử dụng linh hoạt các công cụ phòng chống rủi ro. Ngoài ra, để gia tăng nguồn thu từ dịch vụ, việc hợp tác với bên thứ ba (Fintechs, MNOs...) là những giải pháp hợp lý cần được cân nhắc.

Ngoài những nỗ lực từ bản thân các NHTMCP Việt Nam, sự hỗ trợ của các bên hữu quan, như: Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cũng rất cần thiết để nâng cao hiệu quả HĐKD của hệ thống ngân hàng. Cụ thể, một số khuyến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước là: (1) Xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản lý an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng; (2) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thường xuyên các hoạt động của NHTM; (3) Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nguyễn Việt Hùng (2008). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

 2. Aigner, D.J. & Chu, S.F. (1968). On Estimating the Industry Production Function, The American Economic Review, 4(58), 826-839

3. Berger AN, D Hancock and DB Humphrey (1993). Bank Efficiency Derived from the Profit Function, J Banking and Finance, 17, 317-347

4. Charnes, A., Cooper W., Lewin, Y. A. & Seiford, M. L. (1994). Data Envelopment Analysis: Theory, Methodology, and Application, Kluwer Academic Publishers in 1994 Softcover reprint of the hardcover 1st edition 1994, ISBN 978-94-011-0637-5

5. Farrell, M.J. (1957). The Measurement of Productive Efficiency, Journal of the Royal Statistical Society, 120, 253-290

6. Tripe, D.W. & Thomas, D. (2007). An Investigation into the Efficiency of a Bank's Branch Network Using Data Envelopment Analysis, 12th Finsia-Melbourne Centre for Financial Studies Banking and Finance Conference, Melbourne, 24-25 September 2007

 

Summary

In this study, the author uses a modern approach - a combination of non-parametric (DEA) and parametric (SFA) methods to evaluate and measure the effectiveness of business performance of 29 Vietnamese joint-stock commercial banks in the period 2013-2018. The results show that the technical efficiency of these banks in the period stays low because the fact that a half of them achieve below-average efficiency. In addition, Vietnamese commercial banks are still wasteful and inefficient use of input resources. The results of the study help to objectively assess the business performance of the Vietnamese commercial banking system over a six-year period, and at the same time, make some recommendations to improve their performance in the coming time.

Keywords: business performance, joint-stock commercial bank, modern approach

 

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 6 tháng 2/2020)

Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan