Cập nhật ngày 01/02/2021 - 14:56:37

           

Các nhân tố tác động đến khả năng có việc làm ở Việt Nam

- Việc làm đang ngày càng trở nên khó tìm đối với người lao động, bởi nhu cầu tuyển dụng lao động bị thu hẹp và thêm vào đó là yêu cầu cao hơn về chất lượng, do đó định hướng việc làm trở nên rất quan trọng.

Trần Thị Mai Linh, Đỗ Thanh Phúc

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên

TÓM TẮT:

Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Giải quyết việc làm một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta hiện nay. Chính vì vậy, Nhà nước, các cơ quan chức năng, các tổ chức cũng như người lao động rất cần những thông tin chính xác và đầy đủ về thị trường lao động. Việc xác định các nhân tố tác động đến khả năng có việc làm sẽ góp phần quan trọng trong việc định hướng tạo việc làm một cách có hiệu quả. Bài viết sử dụng mô hình logistic để đánh giá tác động của các nhân tố đến khả năng có việc làm của người lao động ở Việt Nam.

Từ khóa: việc làm, tác động, Việt Nam, thị trường lao động

GIỚI THIỆU

Việc làm luôn là vấn đề có tính thời sự không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới. Vì vậy, giải quyết việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta hiện nay. Đối tượng để giải quyết việc làm là người lao động - một lực lượng chiếm tỷ lệ rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng, các tổ chức chính phủ và phi Chính phủ trong nước quốc tế cũng như bản thân người lao động rất cần những thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ về thị trường lao động. Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm sẽ góp phần quan trọng trong việc định hướng tạo việc làm một cách có hiệu quả, cung cấp các thông tin giúp cho người lao động có cơ hội, khả năng tìm kiếm việc làm một cách nhanh chóng.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô tả số liệu

Trong bài viết này, tác giả sử dụng số liệu trong Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2018 của Tổng cục Thống kê. Báo cáo cung cấp thông tin về tình trạng tham gia thị trường lao động năm 2018 và tóm tắt một số chỉ tiêu của thị trường lao động giai đoạn 2015-2018 của lao động từ 15 tuổi trở lên hiện đang sinh sống tại Việt Nam.

Báo cáo cũng cung cấp các thông tin về lao động và việc làm cho người sử dụng lao động; số liệu về số người tham gia lực lượng lao động, không tham gia lực lượng lao động, cũng như tính được tỷ lệ lực lượng lao động đủ việc, thiếu việc, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở khu vực thành thị, nông thôn. Nội dung của cuộc điều tra lao động việc làm năm 2018 rất phong phú, cung cấp nhiều tiêu thức liên quan đến người lao động, đó là: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, tiền công – tiền lương hoặc thu nhập bình quân và tình hình sử dụng thời gian lao động (Bài viết sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

Mô tả biến số

Trong mô hình logistic, các xác suất pi được xác định bởi công thức:

Trong mô hình này, tác giả không nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của biến độc lập Xk đối với Y mà xem xét ảnh hưởng của  đến xác suất Y nhận giá trị bằng 1 hay kỳ vọng của Y. Qua đó, xác định xác suất để người thứ i trong mẫu có việc làm.

Trên cơ sở số liệu, nghiên cứu xây dựng được mô hình đánh giá xác suất có việc làm của người lao động thứ i trong lực lượng lao động theo tiêu chuẩn:

Trong tiêu chuẩn này, thì PiC là xác suất để người thứ i trong lực lượng lao động có việc làm. Các hệ số ß1, ß2, ..., ßk chưa biết cần ước lượng, các nhân tố X2, X3, ..., Xk là các biến độc lập tương ứng với các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của người thứ i.               

Từ cơ sở nghiên cứu kết quả Báo cáo điều tra lao động việc làm 2018, thu được mô hình logistic có dạng:

Mô hình này xác định được xác suất pi khả năng có việc làm của người thứ i dưới tác động ảnh hưởng của các nhân tố tham gia trong mô hình, pi là xác suất để biến Y nhận giá trị 1 (tức là người thứ i có việc làm).

Các biến đưa vào mô hình gồm có:

Biến phụ thuộc đưa vào mô hình là biến rời rạc

Các biến độc lập được chọn đưa vào mô hình là:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Mô hình thực nghiệm

Trong mô hình này, ta sẽ phân tích một số tương tác giữa các biến số có ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lực lượng lao động, các tương tác này đã được xây dựng một cách chi tiết và sử dụng phần mềm R để ước lượng trong mô hình này. Sau khi ước lượng thực nghiệm mô hình, phân tích giữa lý thuyết và thực tế của mô hình, tác giả đưa vào tập hợp lớn các biến, mà về lý thuyết kinh tế chưa xác định chắc chắn có nên để trong mô hình hay không. Sau khi kiểm định và bỏ đi các biến không có ý nghĩa thống kê, tác giả thu được mô hình thực nghiệm sau:

Trong đó

Phân tích mô hình

Dùng phần mềm R để xử lý, phân tích số liệu ta thu được mô hình với kết quả được cho trong Bảng 1.

Với kết quả có nội dung ngầm định là xác suất để Y nhận giá trị 1 (xác suất để người lao động có việc làm), theo công thức (2) ta tính được xác suất có việc làm của lực lượng lao động.

Vì Y chỉ có 2 giá trị có thể có là 0 và 1 với các xác suất tương ứng là 1 - p và p nên ta tính được kỳ vọng E(Y=1/X) = pc ; trong đó, X là biến độc lập đã được chọn.

Bảng 1: Mô hình logistic ước lượng thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng

đến khả năng có việc làm của người trong độ tuổi lao động

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Phân tích ảnh hưởng tương tác giữa các biến trong mô hình thực nghiệm

Gọi Pilà xác suất không có việc làm của người thứ i, ta tính được hệ số chênh lệch có việc làm (HScv ) theo công thức:

Trong mô hình logistic, khi một biến độc lập tăng lên 1 đơn vị (chẳng hạn là biến thứ k) và tất cả các biến độc lập khác giả thiết là không đổi, khi đó hệ số chênh lệch có việc làm ước tính thay đổi một lượng bằng eßk với ßk là hệ số hồi quy yếu tố k thu được từ ước lượng mô hình.

Đối với mỗi biến độc lập của mô hình vừa thu được tăng lên 1 đơn vị với giải thiết các biến khác không đổi và xác suất ban đầu kiểm định là các giá trị 30%, 40%, 50%, 60%, áp dụng công thức (4) ta tính được biểu xác suất có việc làm của lực lượng lao động theo từng yếu tố của mô hình (Bảng 2 và Bảng 3).

Bảng 2: Xác suất có việc làm của người trong độ tuổi lao động

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bảng 3: Xác suất có việc làm của người trong độ tuổi lao động theo trình độ học vấn

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Phân tích các yếu tố trong mô hình

- Yếu tố tuổi (X1i): Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu xác suất ước tính cho trước là 30%, các biến độc lập khác cố định, thì kết quả là biến tuổi chỉ thay đổi một lượng không đáng kể (30.7%). Như vậy, có thể nói rằng, yếu tố tuổi của người lao động hầu như không ảnh hưởng đến khả năng có việc làm, người lao động khi đã có việc làm thì gần như ổn định.

-  Yếu tố giới tính (X2i): Hệ số chênh lệch việc làm ước thay đổi một lượng là e-0.081364. Chẳng hạn nam giới có sác xuất có việc làm ước tính ban đầu là 0.3 (30%), một người có điều kiện tương tự như vậy, nhưng là nữ giới sẽ có hệ số chênh lệch việc làm là 0.39506. Do đó, xác suất có việc làm của nữ giới là 28.3%. Như vậy, xác suất có việc làm của nữ giới thấp hơn 1.7% so với nam giới.

- Yếu tố hôn nhân (X3i): Từ mô hình, giả sử hai người lao động có mọi điều kiện như nhau, một người đã kết hôn và một chưa kết hôn, thì hệ số chênh lệch việc làm ước thay đổi một lượng là 0.41168. Giả thiết một người đã kết hôn có xác suất có việc làm ước tính ban đầu là 40%. Một người có điệu kiện như vậy, nhưng chưa kết hôn sẽ có hệ số chênh lệch là 0.2746. Do đó, xác suất có việc làm của người chưa kết hôn sẽ là 21.53%, giảm gần một lửa so với người đã kết hôn.

- Yếu tố khu vực (X4i): Kết quả trong Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2018 cũng cho thấy, tốc độ tăng bình quân hàng năm (2015-2018) của lực lượng lao động khu vực thành thị là 2.24% và của khu vực nông thôn là 0.19%. Điều đó đặt ra vấn đề cần giải quyết cho các nhà quản lý là cần tạo ra nhiều việc làm để thu hút lao động cho khu vực nông thôn. Theo kết quả có được từ mô hình, ở thành thị, xác suất có việc làm lớn hơn nhiều so với ở nông thôn; nếu thành thị ước xác suất có việc làm 30%, thì nông thôn xác suất có việc làm giảm hơn 1.5 lần.

- Yếu tố dân tộc (X5i): Nếu hai người có mọi điều kiện như nhau, một người thuộc dân tộc Kinh và một thuộc dân tộc khác. Khi đó hệ số chênh lệch việc làm ước thay đổi một lượng là e-1,.32408. Như vậy, nếu giả thiết một người dân tộc Kinh có xác suất có việc làm ước tính là 40%, thì một người có các điều kiện như vậy nhưng dân tộc khác, thì có hệ số chệnh lệch là 0.17737. Do đó, xác suất có việc làm của người dân tộc khác là 15.1%, giảm 24.9% so với người thuộc dân tộc Kinh.

- Yếu tố sức khoẻ (X6i): Theo kết quả của mô hình, hai người có các điều kiện như nhau, nhưng một người đã có tiền sử điều trị nội trú và một người thì không, khi đó, hệ số chênh lệch việc làm ước lượng được là 0.68762. Giả sử nếu một người chưa điều trị nội trú lần nào có xác suất có việc làm là 40%, thì người còn lại sẽ có xác suất có việc làm là 31.4%, ít hơn 8.6% so với người chưa điều trị nội trú lần nào.

- Yếu tố trình độ học vấn (X7i): Yếu tố giáo dục góp phần rất quan trọng làm tăng thêm khả năng cơ hội có việc làm cho người lao động. Điều này rất phù hợp với vai trò quan trọng của giáo dục và khoa học, công nghệ trong sự phát triển của kinh tế - xã hội. Xu hướng cầu lao động trong giai đoạn 2015-2018 được phản ánh trong Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2018 cho thấy cầu lao động tập trung chủ yếu vào lực lượng lao động có hàm lượng chất xám, trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ thuật cao. Các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ có chuyên môn đặc thù tương ứng.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu về đánh giá tác động của các nhân tố đến khả năng có việc làm của người lao động ở Việt Nam cho thấy, khi người lao động có bằng cấp càng cao (đặc biệt là nhóm lao động có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên), thì khả năng cơ hội có việc làm càng lớn. Lao động đã kết hôn có khả năng kiếm được việc làm cao hơn hẳn so với những lao động còn độc thân. Lao động ở khu vực thành thị và dân tộc Kinh có cơ hội việc làm cao hơn nhóm còn lại. Hạn chế của nghiên cứu là chưa đánh giá, so sánh được tầm quan trọng của các biến trong mô hình, chưa so sánh được độ chính xác trong đánh giá khả năng có việc làm của người lao động giữa mô hình hồi quy logistic với các kỹ thuật khác. Những vấn đề trên sẽ được tác giả tiếp tục hoàn thiện trong các nghiên cứu sau này./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tổng cục Thống kê (2019). Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2018

2. Nguyễn Chí Dũng (2017). Kinh tế lượng ứng dụng với R

3. Trần Kim Dung (2003). Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, Nxb Thống kê Hà Nội

4. Nguyễn Quang Dong, Nguyễn Thị Minh (2013). Giáo trình Kinh tế lượng, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

5. Harrell, F. E. (2015). Regression modeling strategies with applications to linear models, logistic and ordinal regression, and survival analysis, 2nd edition, Springer – Verlag, Cham

6. Hosmer, D. W., Lemeshow, S., and Sturdivant, R. X. (2013). Applied logistic regression, 3rd edition, Jonh Wiley & Sons

Summary

Work has an important role in social life, is a core and throughout matter of economic activities that govern all individual and social activities. Job creation is current one of our country's important goals. Therefore, the State, involved agencies, organizations and workers desperately need accurate and detailed information on the labor market. The identification of factors affecting employability will play an important role in job creation. This paper uses logistic model to assess the impact of factors on the employability of workers in Vietnam.

Keywords: employment, impact, Vietnam, labor market

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 15 tháng 5/2020)

Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan