Cập nhật ngày 27/12/2020 - 09:56:07

           

75 năm ngành Kế hoạch và Đầu tư: Những dấu ấn cải cách và phát triển đất nước

- Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, dự do và chủ nghĩa xã hội.

Chỉ sau 4 tháng giành độc lập, ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 78/SL thành lập Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến thiết - tiền thân của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trước đây và Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày nay. Lời mở đầu Sắc lệnh 78/SL nêu: “Xét rằng ngay khi lo việc kháng chiến, Chính phủ bắt đầu công việc kiến quốc, nhưng sự kiến quốc cần phải có một chương trình cụ thể được nghiên cứu một cách kỹ càng”, vừa mang tính chiến lược phát triển, vừa mang ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn hoạt động của ngành Kế hoạch và Đầu tư trong suốt 75 năm qua.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem mô hình quy hoạch xây dựng Thủ đô (ngày 16/11/1959)

Lịch sử hình thành và phát triển

1. Theo Sắc lệnh 78/SL, Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến thiết có nhiệm vụ nghiên cứu một kế hoạch thiết thực để kiến thiết đất nước về các ngành kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội, văn hóa và nghiên cứu những dự án kiến thiết khác trình Chính phủ. Trong lời phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”, đó là lời chỉ đạo mang ý nghĩa lớn trong quá trình xây dựng kế hoạch kiến thiết đất nước và lấy con người là trung tâm của quá trình phát triển. Nhiệm vụ của Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến thiết và sau đó là Ban Kinh tế của Chính phủ (1950) là nghiên cứu soạn thảo những đề án chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, những kế hoạch quan trọng về kinh tế, về động viên nguồn lực cho cuộc kháng chiến, có nhiều kế hoạch kiến thiết được đưa ra, trong đó phải kể đến kế hoạch “diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”, cùng với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại ở miền Bắc, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, ngày 08/10/1955, Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được thành lập để kế hoạch hóa công cuộc kiến thiết kinh tế và văn hóa, sau đó đến ngày 09/10/1961, được đổi tên thành Ủy ban Kế hoạch Nhà nước với “nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế quốc gia và văn hóa theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho các mặt của nền kinh tế, văn hóa phát triển theo đúng quy luật của chủ nghĩa xã hội và nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hóa của quốc dân”. Trong thời gian này, Kế hoạch tái thiết đất nước 3 năm 1958-1960 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) ra đời ở miền Bắc, đánh dấu một bước hình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế mới và quan hệ sản xuất mới.

Từ năm 1965, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã chuyển sang nghiên cứu, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời chiến ở miền Bắc theo hình thức kế hoạch hóa ngắn hạn, theo năm, theo quý nhằm đáp ứng yêu cầu nhanh, kịp thời để đối phó có hiệu quả tình hình thời chiến. Cũng ngay trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Ủy Ban Kế hoạch Nhà nước đã chủ động tập trung nghiên cứu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước sau chiến tranh.

Sau thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng các ngành, các địa phương xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ hai (1976-1980) với mục tiêu xây dựng một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước thống nhất theo hướng tổ chức lại sản xuất, phân bố lại lao động mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp; cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của người dân. Tập trung cải tiến phương thức quản lý, nhất là vừa đổi mới phương thức kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân thống nhất, vừa đề cao tính chủ động, sáng tạo cho các ngành, địa phương và cơ sở. Tuy nhiên, do chưa nhận thức, đánh giá chưa chính xác thực trạng kinh tế của hai miền, chưa lường hết bối cảnh quốc tế và khu vực cùng với chiến tranh biên giới Tây - Nam và phía Bắc, nguồn lực viện trợ bên ngoài giảm…, nên đã ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch 5 năm đề ra. Cuối kỳ kế hoạch, nhiều mục tiêu, chỉ tiêu không đạt, đời sống của người dân gặp rất nhiều khó khăn, lương thực phải nhập khẩu từ bên ngoài...

2. Dấu ấn về cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức rõ việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã có những đóng góp trực tiếp, nổi bật trong cải cách, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách. Kể từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước đã có những tham mưu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ thực tiễn thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), ngành Kế hoạch và Đầu tư nhận thấy cần phải vận dụng đúng đắn mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ giữa kế hoạch và thị trường, coi thị trường là đối tượng của kế hoạch hóa… trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch. Việc xây dựng Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội lần thứ ba (1981-1985) với những đổi mới quan trọng trong cách thức tổ chức nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, khởi đầu cho quá trình đổi mới toàn diện về kinh tế, xã hội sau này.

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mang mệnh lệnh hành chính, thiếu đi động lực phát triển, thiếu tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp và người lao động được thay thế bằng cơ chế kế hoạch hóa phát triển kinh tế nhiều thành phần, từng bước phi tập trung hóa, tăng tính chủ động, tạo điều kiện thuận lợi cho những sáng kiến đổi mới và thí điểm cải cách của các địa phương và người lao động. Nhận thức rõ sự cần thiết phải tách quyền sở hữu và quyền sản xuất, kinh doanh, bảo đảm khả năng tự chủ của doanh nghiệp nhà nước, ngành kế hoạch đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 25/CP và Nghị định 26/CP, ngày 21/01/1981 về xây dựng và thực hiện kế hoạch “3 phần” đối với doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo điều kiện linh hoạt, chủ động xử lý các trường hợp phát sinh trong kinh doanh, từ đầu vào đến đầu ra, sử dụng linh hoạt các yếu tố sản xuất, như: lao động, tiền vốn và năng lực thiết bị máy móc hiện có… Đây chính là bước đi đầu tiên, là tiền thân của Đổi mới, cởi trói cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong nông nghiệp, cơ chế “khoán sản phẩm” theo Chỉ thị 100 của Trung ương, giao đất cho nông dân và ký hợp đồng khoán sản phẩm trực tiếp với nông dân, đã tạo đột phá trong sản xuất nông nghiệp, đưa nước ta từ một nước chủ yếu nhập khẩu lương thực sang không chỉ đủ ăn, mà còn xuất khẩu. Trong lĩnh vực lưu thông phân phối, cũng đã có những cải cách hướng theo thị trường, bãi bỏ “ngăn sông, cấm chợ” để hàng hóa lưu thông tự do hơn, giá cả sát với thị trường hơn.

Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế, trước hết là xây dựng cho được hệ thống pháp luật kinh tế, ngành Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Phá sản, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư… Các đạo luật này được xây dựng với tư tưởng đổi mới hệ thống thể chế kinh tế, cơ chế chính sách, hướng tới mục tiêu tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đất nước; mở rộng không gian kinh tế cho phát triển kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài...

Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã tiên phong nghiên cứu, xây dựng và tham mưu triển khai những đề án, mô hình, đột phá tư duy kinh tế, chuyển từ tư duy “người dân, doanh nghiệp làm những gì được Nhà nước cho phép” sang “người dân, doanh nghiệp được làm tất cả những gì mà Nhà nước không cấm”; thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ, kinh tế ban đêm; thúc đẩy xây dựng Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia; cải tiến phương pháp thống kê, thống kê nguồn lực quốc gia...

Trong lĩnh vực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, ngành Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động tham mưu ban hành chương trình và chỉ tiêu, mục tiêu phấn đấu hàng năm về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các nghị quyết về chương trình hành động phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp. Ngành cũng đã nghiên cứu, tham mưu, đóng góp mang tính quyết định vào việc hoàn thiện tư duy và chính sách phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế; hỗ trợ doanh nghiệp, giảm sự phân biệt đối xử trong chính sách giữa các khu vực kinh tế, nhất là giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động nghiên cứu, tham mưu nhiều cơ chế, chính sách mang tính đột phá, cải cách trong quản lý nhà nước về đầu tư, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút vốn đầu tư toàn xã hội, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Riêng đối với hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư công, ngành Kế hoạch và Đầu tư luôn đi đầu trong tự vận động đổi mới, tăng cường phân cấp một cách mạnh mẽ, triệt để, cùng với xây dựng cơ chế phối hợp, theo dõi, giám sát, hậu kiểm ngày càng hiệu quả, với mục tiêu vì sự phát triển và tạo mọi điều kiện cho các bộ, ngành, các địa phương chủ động hơn. Ngành đã nghiên cứu và cụ thể hóa việc phân cấp, trao quyền cho các cấp, phù hợp với năng lực và trình độ phát triển qua từng thời kỳ.

Ngoài ra, ngành Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì tổ chức thẩm định nhiều chương trình, dự án quan trọng quốc gia, chương trình, dự án quy mô lớn, liên ngành và nhiều dự án khác thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, thẩm quyền của các bộ, ngành, các địa phương theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư.

Dấu ấn về quản lý phát triển

3. Về quản lý phát triển, dấu ấn về khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng luôn thường trực đối với ngành Kế hoạch và Đầu tư. Công tác tham mưu xây dựng, điều hành thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội luôn được quan tâm và coi trọng hàng đầu, với phương châm liên tục đổi mới về phương pháp xây dựng, đổi mới nội dung và đề xuất các cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm đáp ứng tốt yêu cầu quản lý, phù hợp với tình hình, xu hướng phát triển và hội nhập quốc tế. Bộ Kế hoạch và Đầu tư luôn giữ vai trò quan trọng, là cơ quan thường trực, chủ trì tổ chức xây dựng các chiến lược, từ Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất (1991-2000) với mục tiêu ra khỏi khủng khoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển... đến xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lần thứ hai (2001-2010) về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ra khỏi nhóm nước thu thập thấp và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lần thứ ba (2011-2020) nhằm cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo nền tảng để trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để quản lý phát triển, lĩnh vực quy hoạch cũng được ngành Kế hoạch và Đầu tư luôn quan tâm để hoàn thiện khung khổ pháp lý, như: xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, ngày 07/9/2006 và sau đó là Nghị định số 04/2008/NĐ-CP, ngày 11/01/2008 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng trình Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch với nhiều nội dung mang tính cải cách, đổi mới quan trọng, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, Ngành đã tổ chức lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng và hiện nay tổ chức lập Quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch vùng; hướng dẫn, đôn đốc quá trình lập quy hoạch ngành, quy hoạch tỉnh; xây dựng và vận hành Hệ thống thông tin và dữ liệu quốc gia về quy hoạch. 

Về công tác kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành đã chủ trì xây dựng trình Quốc hội thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm, tổ chức thực hiện và theo dõi, giám sát, đánh giá. Kể từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) về phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc, đến nay đã có 10 kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng và thực hiện.

Trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm đều có các định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác định các ngành, lĩnh vực và địa bàn ưu tiên phát triển, thu hút đầu tư. Đặc biệt, trong thời kỳ 2011-2020, ngành Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì xây dựng, trình Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh và trình Quốc hội thông qua Nghị quyết về cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020. Ngành cũng đã chủ trì, tham mưu các giải pháp để cải thiện cơ cấu kinh tế và năng lực điều hành chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, khả năng tự chủ của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Đồng thời, đã phát huy tốt vai trò cơ quan đầu mối trong triển khai thực hiện phát triển bền vững và tăng trưởng xanh, trong đó điển hình là Chương trình nghị sự quốc gia 2030 vì sự phát triển bền vững và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19, nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng đã được ngành Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, báo cáo đề án “Khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phục hồi và phát triển kinh tế đất nước”; “Các chính sách hỗ trợ người dân, người lao động gặp khó khăn, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội”...

Kể từ năm 1990, sau 3 kỳ Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều; năm 2020, quy mô nền kinh tế (GDP) đạt 340 tỷ USD danh nghĩa, gấp 52,3 lần so với năm 1990 và GDP bình quân đầu người đạt gần 3.500 USD, gấp hơn 35 lần. Nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), thì quy mô GDP của nước ta đạt trên 1.000 tỷ USD, xếp thứ 26 trên thế giới với GDP bình quân đầu người đạt 10.500 USD/người.

Tiếp tục đổi mới và phát triển

4. Nước ta đang chuẩn bị bước vào thời kỳ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lần thứ tư (2021-2030) với những cơ hội và khó khăn, thách thức mới, đang đặt ra các yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước nhằm vượt qua bẫy thu nhập trung bình, chuyển từ nước có thu nhập trung bình thấp lên nước có thu nhập trung bình cao, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu. Thúc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dỡ bỏ các rào cản thể chế để tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi; hoàn tất quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập theo thông lệ quốc tế. Cải cách mạnh mẽ để phát triển khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng khả năng thích ứng, khả năng chống chịu của nền kinh tế  trong bối cảnh sẽ chịu ảnh hưởng nhiều chiều và mạnh mẽ hơn từ những biến động phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế…

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng, phồn vinh, hạnh phúc, nỗ lực phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao, đòi hỏi ngành Kế hoạch và Đầu tư phải đi đầu trong khởi xướng cải cách phát triển, kiến tạo phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đổi mới tư duy xây dựng phương thức quản lý để phát triển nhanh và bền vững. Đổi mới thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh có tính cạnh tranh cao. Thực hiện tốt chức năng quản lý phát triển, tập trung vào xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch kinh tế - xã hội, huy động và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả theo cơ chế thị trường, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế với các cú sốc từ bên ngoài, tổ chức lại công tác phân tích dự báo, cảnh báo tốt hơn để có những kịch bản ứng phó kịp thời... nhằm hiện thực hóa chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị trực tuyến ngành Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 09/01/2020, “Bộ Kế hoạch và Đầu tư đóng vai trò như một nhà toán học, phải xung phong đi đầu trong việc giải bài toán lớn, có đầu bài khó về phát triển đất nước, nhất là khơi thông nguồn lực, khơi thông điểm nghẽn, nâng cao tính hiệu quả trong điều hành”, “không ai khác hơn, chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải trực tiếp tham mưu, hiến kế, hoạch định chiến lược, lộ trình để biến khát vọng đó thành hiện thực”. /.

TS. Cao Viết Sinh

Chuyên gia cao cấp, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan