Cập nhật ngày 08/11/2018 - 11:50:54

           

Hoàn thiện thể chế quản lý thuế

- Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết.

 

Sáng ngày 08/11, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã nghe Tờ trình về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) của Chính phủ và báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban Tài chính Ngân sách.

 

 Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng, việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết

4 lý do phải sửa đổi Luật quản lý thuế

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007, từ đó đến nay Luật quản lý thuế đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016.

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã góp phần thống nhất chính sách về quản lý thuế, trên cơ sở đó công tác quản lý thuế đã được thay đổi theo cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế; là cơ sở để thực hiện cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý thuế; là cơ sở quan trọng để cơ quan quản lý thuế thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ các khoản thu khác của ngân sách nhà nước; cơ sở đối tượng nộp thuế đã được mở rộng; tạo ra sự đồng bộ nâng cao tính minh bạch đồng thời tăng cường vai trò kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan nhà nước...

Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, với các lý do sau:

- Để hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế.

- Tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập.

- Tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng  rộng  rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch.

- Khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nêu rõ, việc xây dựng Luật đảm bảo quán triệt và thực hiện chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng thể chế, chính sách tài chính, quản lý thuế; tuân thủ Hiến pháp năm 2013 và thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan, nhất là các văn bản pháp luật về thuế, phí, quản lý ngân sách và quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính; có tính thực tiễn cao, cụ thể, bao quát các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan liên quan, cũng như quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế; và kế thừa những nội dung quy định của Luật quản lý thuế hiện hành còn giá trị thực hiện, tập trung sửa đổi những quy định còn bất cập và bổ sung những, chuẩn mực theo kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể

Cũng tại phiên họp sáng ngày 8/11/2018, thay mặt Ủy ban Tài chính - Ngân sách trình bày ý kiến thẩm tra về dự án Luật này trước Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Đức Hải cho biết, trên cơ sở Tờ trình số 358/TTr-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ về Dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi), ngày 20/9/2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Ủy ban nhận thấy, hồ sơ dự án Luật của Chính phủ trình đã đảm bảo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thống nhất với tên gọi của Luật là Luật quản lý thuế (sửa đổi), vì phạm vi sửa đổi lần này khá rộng, bổ sung nhiều nội dung mới phức tạp, quan trọng.

Tuy nhiên, để có cơ sở thẩm tra, đánh giá và để các đại biểu Quốc hội có căn cứ, xem xét cho ý kiến đối với từng nội dung, đề nghị Chính phủ cần thuyết minh rõ hơn về cơ sở, nguyên nhân và lý do cần bổ sung các quy định mới và bỏ những quy định không còn phù hợp trong Luật hiện hành.

Cùng với đó, ông Hải cũng cho biết, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể.

“Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, dự thảo lần này có khoảng ¼ số điều của Luật (36/152 điều) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi đó có khoảng 15 Điều trong Luật hiện hành không giao Chính phủ quy định chi tiết nay lại được bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi Tờ trình của Chính phủ không giải thích lý do. Do vậy, đề nghị Chính phủ cần giải trình rõ lý do cụ thể”, ông Hải chỉ rõ.

Về nguyên tắc quản lý thuế, ông Hải đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung việc áp dụng nguyên tắc “giao dịch độc lập” trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết nộp thuế tương xứng với giá trị tạo ra tại Việt Nam.

 Đồng thời, đề nghị bổ sung vào Điều 49 và Điều 50 theo nguyên tắc quản lý thuế căn cứ vào bản chất và nguyên tắc giao dịch độc lập.

Đối với những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế, Ủy ban Tài chính ngân sách đề nghị cần bố cục, sắp xếp theo từng nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuế, người nộp thuế.

 Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định hành vi bị cấm đối với cơ quan, tổ chức liên quan, do đó cần nghiên cứu, bổ sung nội dung này trong dự thảo Luật.

Đối với các trường hợp được khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, đa số ý kiến trong Ủy ban nhất trí với dự thảo Luật. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị không tiến hành khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp đối với các trường hợp nêu tại: khoản 2: “Người nộp thuế có quyết định giải thể gửi cơ quan quản lý thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh để làm thủ tục giải thể, …”; khoản 4: “Người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh…”; khoản 5: “Người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh…”.

Về quy định đại lý thuế được phép cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ, đa số ý kiến trong Ủy ban cơ bản đồng tình với dự thảo Luật. Tuy nhiên, đề nghị cần bổ sung quy định bắt buộc cán bộ của Tổ chức kinh doanh đại lý thuế phải có chứng nhận đủ trình độ nghiệp vụ về kế toán do Bộ Tài chính cấp. Đồng thời đề nghị Bộ Tài chính cần sớm ban hành và triển khai thực hiện chế độ kế toán đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Chính phủ sẽ nghiên cứu, bổ sung nội dung này khi trình Quốc hội sửa đổi Luật Kế toán để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Một số ý kiến đồng ý cho phép Tổ chức kinh doanh dịch vụ đại lý thuế được phép cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ, song phải đảm bảo đủ tiêu chí về hành nghề kế toán được quy định tại Điều 59 và Điều 60 của Luật Kế toán.

Ủy ban Tài chính Ngân sách cũng nhất trí với quy định về hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/2020, riêng về thời điểm hiệu lực thực hiện hóa đơn điện tử từ ngày 01/7/2020.

Bên cạnh đó, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Nguyễn Đức Hải đề nghị Chính phủ rà soát để bổ sung các quy định cần chuyển tiếp trong dự thảo Luật, tránh các vướng mắc khi Luật này có hiệu lực thi hành./.

Trí Dũng
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan