Cập nhật ngày 29/05/2020 - 22:33:40

           

UBTVQH giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật PPP như thế nào?

- Ngày 28/5/2020, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh đã trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) với Quốc hội.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh đã trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật  PPP 

Thu hẹp phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật

Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh cho biết, một số ý kiến cho rằng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật là quá rộng, chưa rõ, đề nghị quy định rõ lĩnh vực được thực hiện theo phương thức đối tác công tư; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có liên quan.

Về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, làm rõ hơn khái niệm về “đầu tư theo phương thức đối tác công tư” tại khoản 1 và sửa đổi, bổ sung một số khái niệm khác tại Điều 3 (Giải thích từ ngữ), rà soát thu hẹp các lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP tại Điều 4 (Lĩnh vực đầu tư, quy mô và phân loại dự án PPP); rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng dự án PPP; quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP, bên cho vay, bên mời thầu ngay tại dự thảo Luật hoặc bổ sung quy định nguyên tắc làm cơ sở quy định các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ này trong hợp đồng dự án PPP.

Về áp dụng luật và điều ước quốc tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bỏ toàn bộ điều quy định về áp dụng luật và điều ước quốc tế. Trường hợp cần ưu tiên áp dụng Luật PPP so với các luật khác tại các nội dung cụ thể của Luật PPP thì chỉ rõ tại điều, khoản của dự thảo Luật PPP quy định về nội dung đó. Ngoài ra, tại Điều 104 cũng đề xuất sửa đổi một số điều, khoản tại 03 luật liên quan (cụ thể, Điều 104 dự thảo Luật quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số luật: Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công và Luật Giá) để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

 Một số ý kiến đề nghị cần hạn chế lĩnh vực đầu tư PPP, có ý kiến đề nghị cần bổ sung một số lĩnh vực, trong đó có thủy lợi; một số ý kiến đề nghị không quy định “nhà máy điện” là một trong các lĩnh vực được đầu tư theo phương thức PPP.

Đối với nội dung này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng thu hẹp lĩnh vực, chỉ tập trung đầu tư PPP ở những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, quan tâm đến các dự án lớn có tính liên kết vùng miền, tính lan toả đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương, đồng thời rà soát lĩnh vực đầu tư PPP trên nguyên tắc bảo đảm ưu tiên thu hút đầu tư tư nhân theo pháp luật về đầu tư.

Căn cứ Báo cáo kết quả tổng kết 20 năm thực hiện dự án PPP của Chính phủ và yêu cầu thu hẹp lĩnh vực đầu tư PPP để tập trung nguồn lực, dự thảo Luật đã bổ sung lĩnh vực thủy lợi. Như vậy, có 5 nhóm lĩnh vực được lựa chọn và thể hiện tại khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật là những lĩnh vực quan trọng, thiết yếu liên quan đến phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi), cung cấp dịch vụ thiết yếu (điện, nước, xử lý môi trường), bảo đảm an sinh xã hội (y tế, giáo dục - đào tạo), phù hợp với sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0 (hạ tầng công nghệ thông tin), thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng đời sống của người dân.

"Kinh nghiệm triển khai đầu tư PPP của các quốc gia khác cũng chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nhất định, không làm tràn lan vì việc mở rộng cơ chế đầu tư PPP có khả năng dẫn đến rủi ro ở cấp độ quốc gia”, ông Thanh cho hay.

2 phương án quy định "nhà máy điện”

Về quy định “nhà máy điện”, do còn có ý kiến khác nhau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin trình 02 phương án để Quốc hội xem xét, quyết định, cụ thể:

- Phương án 1: Chính sách thu hút đầu tư tư nhân thông qua phương thức PPP vào lĩnh vực năng lượng nói chung và nhà máy điện, lưới điện nói riêng là phù hợp với chủ trương tại Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

 Hơn nữa, thực tế hiện nay có nhiều dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện được đầu tư theo phương thức PPP. Đối với nhà máy thủy điện, không khuyến khích thủy điện do vấn đề ảnh hưởng tác động đến tài nguyên, mức độ an toàn đối với đời sống của người dân; nhà máy thủy điện hiện nay đã thu hút được đầu tư tư nhân thuần túy qua mô hình IPP (nhà máy điện độc lập), mà không cần áp dụng phương thức PPP do chi phí đầu tư ban đầu không cao như các phương thức nguồn điện khác như nhiệt điện, điện tái tạo, điện khí.

Hiện “tiềm năng thủy điện tại nước ta đã được khai thác tương đối nhiều, nếu tiếp tục triển khai thủy điện thì có khả năng mất cân đối, trường hợp phụ thuộc quá nhiều vào thủy điện sẽ bị ảnh hưởng về tính thời vụ của loại điện năng này. Do vậy, cần giữ quy định cho phép áp dụng phương thức PPP đối với các nhà máy điện (trừ nhà máy thủy điện)”, ông Thanh lý giải.

Phương án 2, theo ông Thanh, hiện nay, khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực “nhà máy điện” này theo nhiều phương thức khác nhau. Cụ thể, căn cứ Quy hoạch phát triển điện lực quốcgia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011, việc đầu tư chủ yếu theo các phương thức sau: doanh nghiệp nhà nước (73 dự án), đầu tư trực tiếp theo dạng điện độc lập (IPP - 48 dự án) và PPP (loại hợp đồng BOT - 25 dự án). Như vậy, lĩnh vực “nhà máy điện” có thể được đầu tư hoàn toàn bởi doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân mà không cần thông qua phương thức PPP.

Trong 2 phương án trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị lựa chọn phương án 1.

Về ý kiến đề nghị rà soát quy định về lĩnh vực đầu tư dự án PPP đối với hệ thống truyền tải điện để thống nhất với quy định của Luật Điện lực, vì cho rằng truyền tải điện là lĩnh vực độc quyền của Nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, sửa đổi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4, thay “hệ thống truyền tải điện” bằng “lưới điện” nhằm bảo đảm phù hợp với quy định tại Luật Điện lực.

“Đầu tư PPP không phải là đầu tư tư nhân thuần túy, nên quyền kiểm soát, quyết định các yếu tố liên quan đến phát triển điện, cung ứng dịch vụ truyền tải điện vẫn phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, do đó việc cho phép đầu tư dự án PPP trong lĩnh vực lưới điện không trái với quy định độc quyền của Nhà nước tại Luật Điện lực”,  Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh nhấn mạnh.

Cung cấp nước sạch là một trong các lĩnh vực đầu tư PPP

Về ý kiến đề nghị không quy định lĩnh vực cung cấp nước sạch vì lĩnh vực này tư nhân hoàn toàn có thể tham gia đầu tư mà không cần thực hiện theo PPP, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ rõ, hoạt động xã hội hóa và hoạt động đầu tư theo phương thức PPP đều có cùng mục đích là thu hút nguồn lực tư nhân tham gia cung cấp sản phẩm, dịch vụ công.

Các quy định hiện hành về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch đã khuyến khích, thu hút nhà đầu tư tư nhân tham gia trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, phương thức đầu tư PPP cho phép nhà nước quản lý chặt chẽ về công suất, chất lượng nước sạch và dịch vụ cung cấp thông qua cơ chế hợp đồng, hạn chế các tồn tại về cấp nước sạch do tư nhân đầu tư trong thời gian qua.

Bên cạnh đó, việc bổ sung năng lực cấp nước tại các địa phương (đặc biệt các đô thị lớn) là đòi hỏi cấp thiết trong khi nguồn vốn đầu tư công còn hạn hẹp, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thực tế.

Dự án PPP trong lĩnh vực cấp nước bao gồm việc đầu tư xây dựng hệ thống thu, dẫn nước thô (từ nguồn), nhà máy xử lý nước và hệ thống phân phối nước sạch tới các hộ tiêu dùng sẽ là cơ chế linh hoạt để giải quyết các thiếu hụt đối với hạ tầng xử lý và cấp nước sạch hiện nay.

Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin đề nghị Quốc hội cho được giữ quy định lĩnh vực cung cấp nước sạch là một trong các lĩnh vực đầu tư PPP (tại điểm c khoản 1 Điều 4).

Về đề nghị quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết định các dự án phát sinh ngoài lĩnh vực quy định tại dự thảo Luật, nhưng cần phải thực hiện đầu tư theo phương thức PPP để bảo đảm xử lý một số tình huống phát sinh trên thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, khoản 1 Điều 4 đã quy định 5 nhóm lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP là những lĩnh vực quan trọng, thiết yếu trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện dự án PPP nhằm tránh mở rộng các dự án PPP, không làm tràn lan, vì việc mở rộng cơ chế đầu tư PPP có khả năng dẫn đến rủi ro về cân đối vốn đầu tư công, rủi ro ở cấp độ quốc gia về nợ công, nợ nước ngoài và gây khó khăn cho công tác quản lý ngân sách nhà nước.

"Do vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin đề nghị Quốc hội cho giữ như dự thảo Luật”, ông Thanh báo cáo.

Quy mô đầu tư dự án PPP thế nào?

Một số ý kiến nhất trí với việc giao Chính phủ quy định hạn mức quy mô đầu tư tối thiểu của dự án PPP phù hợp với từng ngành, lĩnh vực và tùy từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tuy nhiên cần làm rõ mức đầu tư tối thiểu của dự án PPP không thấp hơn 200 tỷ đồng hay không thấp hơn 100 tỷ đồng để phù hợp với nhiều địa phương, các lĩnh vực đầu tư khác nhau.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 4 dự thảo Luật theo hướng những dự án PPP đầu tư ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư hoặc trong lĩnh vực y tế, giáo dục - đào tạo thì có tổng mức đầu tư tối thiểu là 100 tỷ đồng, các dự án PPP tại các địa bàn, lĩnh vực khác có tổng mức đầu tư tối thiểu là 200 tỷ đồng.

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định này nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi khó khăn, có ý nghĩa lớn về mặt xã hội và giúp nhiều đối tượng được thụ hưởng trong khi nguồn lực đầu tư công còn hạn hẹp, không đáp ứng được nhu cầu. Riêng đối với loại dự án PPP áp dụng loại hợp đồng kinh doanh - quản lý, thì không khống chế tổng mức đầu tư tối thiểu do loại dự án này không có cấu phần xây dựng.

Bổ sung thẩm quyền của HĐND tỉnh trong việc quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP

Một số ý kiến đề nghị bổ sung, quy định rõ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP để phù hợp với Luật Đầu tư công.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, bổ sung thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP thực hiện tại địa phương.

Một số ý kiến cho rằng, cần xem xét, rà soát lại sự phù hợp về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và đã rà soát sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 12 theo hướng làm rõ các tiêu chí của dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ phù hợp với quy định của Luật Đầu tư công và Luật Đầu tư.

Về ý kiến đề nghị rà soát lại quy định tại điểm a khoản 1 và điểm b, đ khoản 2 bảo đảm thống nhất về số vốn đầu tư công hay tổng mức đầu tư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, các quy định này không mâu thuẫn.

Cụ thể, quy định tại điểm a khoản 1 và quy định tại các điểm b, đ khoản 2 không mâu thuẫn do điểm a khoản 1 Điều 12 quy định về quy mô tổng vốn đầu tư công trong dự án PPP từ 10.000 tỷ đồng trở lên, phù hợp với quy định tại Luật Đầu tư công (khoản 1 Điều 7); các điểm b, đ khoản 2 Điều 12 quy định về tổng mức đầu tư của dự án do có thể có nguồn vốn hỗn hợp, bao gồm cả vốn đầu tư công và vốn đầu tư của tư nhân.

Cấp nào có quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án PPP

Một số ý kiến đề nghị quy định cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP chịu trách nhiệm điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án PPP và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. 

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, quy định tương tự như tại Điều 34 (Điều chỉnh chủ trương đầu tư) của Luật Đầu tư công.

Về đề nghị xem xét lại quy định về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án khi tổng mức đầu tư tăng từ 20% trở lê,  vì cho rằng mức này quá cao; đồng thời, đề nghị quy định mức tối đa trong tăng tổng mức đầu tư khi quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư, bảo đảm nguyên tắc không vượt mức trần được phép điều chỉnh; có thể nghiên cứu “không quá 30% hoặc không quá 3 lần mức dự phòng của dự án, nếu cao hơn phải báo cáo cấp có thẩm quyền cao hơn một cấp”.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể các trường hợp được điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án PPP tại khoản 1 Điều 18, trong đó có trường hợp tăng giá trị vốn nhà nước trong dự án PPP để phù hợp với Luật Đầu tư công và trường hợp tăng tổng mức đầu tư từ 10% trở lên so với tổng mức đầu tư đã được quyết định tại bước chủ trương đầu tư dự án trong một số trường hợp (sự kiện bất khả kháng; quy hoạch, chính sách, pháp luật có liên quan thay đổi; điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi).

Để hạn chế việc phải điều chỉnh chủ trương đầu tư nhiều lần và tránh thủ tục phức tạp, kéo dài, dự thảo Luật quy định trường hợp thay đổi tăng tổng mức đầu tư từ 10% trở lên thì mới phải điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án (tương tự mức quy định trong dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi). Đồng thời, quy định tại khoản 4 Điều 51 về tăng tổng mức đầu tư sau khi đã sử dụng hết dự phòng.

Dự thảo Luật cũng đã bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 18 về mức trần được phép điều chỉnh không quá 30%; trường hợp tổng mức đầu tư tăng từ 30% trở lên, trước khi điều chỉnh thì cấp có thẩm quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, chấp thuận đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận đối với dự án do Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương và cơ quan khác, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư. 

Cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ thế nào?

Nhiều ý kiến nhất trí cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu, tuy nhiên đề nghị quy định rõ về nguyên tắc chia sẻ, khi nào thì chia sẻ rủi ro, chia sẻ rủi ro ở mức nào và rủi ro nào Nhà nước phải chịu, rủi ro nào nhà đầu tư phải chịu, làm rõ cơ sở xác định mức chia sẻ rủi ro 50%, 75%. Một số ý kiến đề nghị chỉ thực hiện chia sẻ rủi ro khi doanh nghiệp PPP thua lỗ, mất vốn. Đề nghị quy định rõ hơn về cấp có thẩm quyền quyết định, điều kiện, đối tượng áp dụng, cách thức kiểm soát và quản lý rủi ro tài chính quốc gia.

Về nội dung này do còn có ý kiến khác nhau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin trình 02 phương án để Quốc hội xem xét, quyết định, cụ thể:

Phương án 1: Cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu

(1) Về căn cứ, điều kiện áp dụng cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu: xin tiếp thu sửa đổi, bổ sung quy định tại các Điều 51 (Sửa đổi hợp đồng dự án PPP), Điều 52 (Thời hạn hợp đồng dự án PPP) và Điều 84 (Cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu) xác định không phải trong mọi trường hợp đều được áp dụng cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu.

Cụ thể: (i) việc chia sẻ phần tăng doanh thu được áp dụng sau khi đã thực hiện điều chỉnh thời hạn hợp đồng PPP theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 52; (ii) việc chia sẻ phần giảm doanh thu chỉ được thực hiện khi dự án PPP đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ quy định tại khoản 2 Điều 84 dự thảo Luật: dự án do cơ quan có thẩm quyền lập; áp dụng loại hợp đồng BOT, BTO, BOO và không sử dụng vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng; quy hoạch, chính sách, pháp luật có liên quan thay đổi làm doanh thu thực tế thấp hơn 75% mức doanh thu trong phương án tài chính; đã thực hiện đầy đủ các biện pháp điều chỉnh mức giá, phí sản phẩm, dịch vụ hoặc điều chỉnh thời hạn hợp đồng dự án PPP nhưng vẫn chưa bảo đảm được mức doanh thu quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84.

(2) Về việc áp dụng cơ chế chia sẻ khi dự án giảm doanh thu mà không áp dụng cơ chế chia sẻ khi nhà đầu tư dự án PPP thua lỗ, mất vốn: dự án PPP được xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả về mặt tài chính căn cứ phương án tài chính của dự án, trong đó “thời điểm hoàn vốn cho dự án” là một yếu tố quan trọng.

Với bản chất dài hạn, thời điểm hoàn vốn của dự án PPP có thể lên đến hàng chục năm kể từ thời điểm ký kết hợp đồng dự án. Theo đó, trên thực tế, dự án PPP chỉ được xác định thua lỗ, mất vốn khi không đạt điểm hoàn vốn (bắt đầu có lãi) theo phương án tài chính. Hơn nữa, có nhiều yếu tố tác động trong thời gian thực hiện và đưa vào khai thác, sử dung dự án (ví dụ: thay đổi tỷ giá, lãi suất vay ... ) sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp dự án PPP cố tình tăng cao các chi phí quản lý để tránh lãi phát sinh lớn hoặc nếu lỗ sẽ lỗ nhiều hơn, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước. Do đó, dự thảo Luật PPP không tiếp cận theo hướng chia sẻ khi nhà đầu tư dự án PPP thua lỗ, mất vốn, mà chỉ xem xét việc áp dụng chia sẻ khi doanh thu của dự án bị sụt giảm do lỗi từ phía Nhà nước.

Mặt khác, sụt giảm doanh thu lớn sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới dòng tiền của doanh nghiệp, có khả năng tác động đến khả năng trả nợ đối với bên cho vay nên cần cơ chế để xử lý ngay cho từng năm. Cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm soát doanh thu hàng năm quy định tại khoản 4 Điều 84 của dự thảo Luật.

(3) Về cơ sở xác định các mức tỷ lệ trong cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu:

- Về tỷ lệ 50%-50% khi chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu: tại hồ sơ dự án Luật do Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8, cơ chế này được đề xuất theo hướng Nhà nước chia sẻ không quá 50% phần hụt thu và nhà đầu tư chia sẻ không thấp hơn 50% phần tăng thu. Một số ý kiến cho rằng quy định như vậy không rõ, không bảo đảm sự bình đẳng trong mối quan hệ chia sẻ giữa Nhà nước và tư nhân, do vậy, xin tiếp thu theo hướng cố định tỷ lệ 50%-50%.

- Về tỷ lệ mức doanh thu cam kết để bắt đầu thực hiện chia sẻ khi giảm doanh thu: hồ sơ dự án Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8 không quy định cụ thể mức này, một số ý kiến đề nghị phải quy định tỷ lệ cụ thể. Từ kinh nghiệm một số nước và thực tiễn triển khai một số dự án BOT giao thông, xin tiếp thu theo hướng:

+ Khi doanh thu thực tế chỉ đạt 75% doanh thu trong phương án tài chính trở xuống, với các dự án đủ điều kiện, Nhà nước bắt đầu xem xét, tính toán việc chia sẻ phần giảm doanh thu.

+ Khi doanh thu thực tế đạt từ 125% doanh thu trong phương án tài chính trở lên, Nhà nước bắt đầu xem xét, yêu cầu nhà đầu tư chia sẻ phần tăng doanh thu.

Phương án 2: Cơ chế chia sẻ phần lỗ, lãi

(1) Về căn cứ, điều kiện áp dụng cơ chế chia sẻ phần lỗ, lãi: xin tiếp thu sửa đổi, bổ sung quy định tại các Điều 51 (Sửa đổi hợp đồng dự án PPP), Điều 52 (Thời hạn hợp đồng dự án PPP) và Điều 84 (Cơ chế chia sẻ lỗ, lãi) xác định không phải trong mọi trường hợp đều được áp dụng cơ chế chia sẻ phần lỗ, lãi.

Cụ thể: (i) việc chia sẻ phần lãi tăng thêm sau điểm hòa vốn so với phương án tài chính tại hợp đồng được áp dụng sau khi đã thực hiện điều chỉnh thời hạn hợp đồng PPP theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 52;

 (ii) việc chia sẻ phần lỗ sau điểm hòa vốn so với phương án tài chính tại hợp đồng chỉ được thực hiện khi dự án PPP đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ quy định tại khoản 2 Điều 84 dự thảo Luật: dự án do cơ quan có thẩm quyền lập; áp dụng loại hợp đồng BOT, BTO, BOO và không sử dụng vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng; quy hoạch, chính sách, pháp luật có liên quan thay đổi làm doanh nghiệp dự án PPP bị thua lỗ; đã thực hiện đầy đủ các biện pháp điều chỉnh mức giá, phí sản phẩm, dịch vụ hoặc điều chỉnh thời hạn hợp đồng dự án PPP nhưng doanh nghiệp vẫn bị thua lỗ.

(2) Cơ chế chia sẻ phần lỗ, lãi phải được xác định tại quyết định chủ trương đầu tư. Đối với dự án PPP thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, việc chia sẻ phần lỗ do ngân sách địa phương bảo đảm. Từ thời điểm phát sinh sự thay đổi của quy hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các bên trong hợp đồng dự án PPP xác định phần lỗ thực tế gửi cơ quan tài chính theo phân cấp xem xét thực hiện cơ chế chia sẻ phần lỗ, lãi. Việc hạch toán thu, chi ngân sách nhà nước khi chia sẻ phần lỗ, lãi thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

(3) Về tỷ lệ chia sẻ phần lỗ, lãi: Nhà nước chia sẻ với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP 50% phần lỗ sau điểm hòa vốn so với phương án tài chính tại hợp đồng hoặc nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chia sẻ với Nhà nước 50% phần lãi tăng thêm sau điểm hòa vốn so với phương án tài chính tại hợp đồng nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong mối quan hệ chia sẻ giữa Nhà nước và tư nhân.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị lựa chọn phương án 1.

Có ý kiến đề nghị sử dụng nguồn chi thường xuyên để thực hiện cơ chế chia sẻ phần giảm doanh thu hoặc phần lỗ của doanh nghiệp dự án PPP. Ý kiến khác đề nghị sử dụng nguồn dự phòng chung nguồn ngân sách trung ương của kế hoạch đầu tư công trung hạn quốc gia để thực hiện cơ chế chia sẻ.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 76, xác định rõ nguồn để thực hiện cơ chế chia sẻ nêu trên, cụ thể là: đối với dự án do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương, cơ quan khác quyết định chủ trương đầu tư thì sử dụng dự phòng chung nguồn ngân sách trung ương của kế hoạch đầu tư công trung hạn quốc gia; đối với dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư thì sử dụng dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách địa phương.

Sửa đổi quy định về hoạt động kiểm toán nhà nước trong dự án PPP

Một số ý kiến cho rằng Kiểm toán Nhà nước chỉ kiểm toán tài sản công, tài chính công trong dự án PPP, không kiểm toán vốn đầu tư tư nhân trong dự án. Một số ý kiến khác cho rằng, dự án PPP bản chất là đầu tư công nên phải kiểm toán toàn bộ, kể cả phần đầu tư từ nguồn vốn tư nhân.

Có ý kiến đề nghị cần cân nhắc kỹ thời điểm nào, giai đoạn nào thực hiện kiểm toán dự án PPP, tránh gây khó khăn trong hoạt động của dự án; đề nghị nghiên cứu việc kiểm toán khi dự án đã tiến hành vận hành, khai thác ổn định từ 2 - 3 năm trên cơ sở xem xét các chỉ số chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh để đánh giá tính kinh tế và hiệu quả kinh tế của dự án.

Mặt khác, Hiến pháp và pháp luật về kiểm toán Nhà nước quy định Kiểm toán Nhà nước chỉ thực hiện kiểm toán tài chính công, tài sản công. Do đó, nếu quy định kiểm toán toàn bộ dự án, kể cả phần vốn đầu tư từ khu vực tư nhân sẽ khó thu hút, huy động được nguồn vốn từ khu vực tư nhân cho sự phát triển.

Ngoài ra, theo khuyến nghị của Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế, đối với tài liệu liên quan của bên đối tác tư nhân, Kiểm toán Nhà nước chỉ được tiếp cận nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng dự án PPP, mà không đương nhiên có quyền tiếp cận như đối với tài liệu của bên đối tác là khu vực công. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, sửa đổi, bổ sung quy định về hoạt động kiểm toán Nhà nước như sau:

(i) Kiểm toán tuân thủ về quá trình chuẩn bị dự án, kết quả lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án PPP có sử dụng tài chính công, tài sản công.

Nội dung kiểm toán này được quy định căn cứ khuyến nghị tại chuẩn mực kiểm toán số ISSAI 5220 của Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế mà Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là thành viên. Dự thảo Luật đã lược bỏ quy định về thời điểm yêu cầu đối với nội dung kiểm toán này;

(ii) Kiểm toán việc sử dụng vốn nhà nước để bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư, hỗ trợ xây dựng công trình tạm (nếu có) quy định tại Điều 74 của Luật này; hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng khi tách thành một dự án thành phần quy định tại điểm a khoản 5 Điều 72 của Luật này; sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT quy định tại khoản 3 Điều 45 của Luật này;

(iii) Kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trên cơ sở các chỉ số đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ của dự án PPP có sử dụng tài chính công, tài sản công sau thời gian vận hành, khai thác tối thiểu 03 năm;

 (iv) Khi chuyển giao cho Nhà nước, thực hiện kiểm toán toàn bộ giá trị tài sản của dự án PPP.

Về ý kiến đề nghị cần quy định rõ việc thực hiện kiểm toán độc lập đối với phần vốn đầu tư của tư nhân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ rõ, tại khoản 3 Điều 63 (Quyết toán vốn đầu tư công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng) đã xác định vai trò của kiểm toán độc lập trong dự án PPP, cụ thể: cơ quan ký kết hợp đồng thỏa thuận với doanh nghiệp dự án PPP tại hợp đồng việc lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập, có năng lực và kinh nghiệm để thực hiện việc kiểm toán vốn đầu tư xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng.

Chính phủ được giao quy định chi tiết việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án PPP

Một số ý kiến đề nghị làm rõ quy định từ Điều 71 đến Điều 75 về vốn Nhà nước trong các dự án PPP, theo đó loại dự án PPP được sử dụng vốn nhà nước, cơ chế quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo: vốn nhà nước có thể tham gia ở tất cả các dự án PPP phụ thuộc vào khả năng cân đối vốn nhà nước trong từng thời kỳ do cơ quan có thẩm quyền quyết định, cũng như tùy thuộc vào tính chất và tính khả thi của dự án theo hướng nhà đầu tư sẽ tham gia ở mức tối đa và Nhà nước tham gia ở mức tối thiểu.

Vốn nhà nước chỉ tham gia trong trường hợp hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng giai đoạn đầu tư xây dựng nhằm gia tăng tính hiệu quả về tài chính cho dự án; thanh toán trên cơ sở chất lượng sản phẩm, dịch vụ công được sử dụng trong hợp đồng BLT, BTL để thanh toán cho doanh nghiệp dự án PPP trên cơ sở mức độ đáp ứng các yêu cầu của hợp đồng; kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư; hỗ trợ xây dựng công trình tạm (nếu có) theo quy định của pháp luật về đầu tư công.

 Căn cứ kế hoạch đầu tư công trung hạn, báo cáo nghiên cứu khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, kết quả lựa chọn nhà đầu tư, vốn đầu tư công sử dụng trong dự án PPP được tổng hợp trong kế hoạch đầu tư công hằng năm.

Khoản 3 Điều 71 giao Chính phủ quy định chi tiết việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án PPP.

Một số ý kiến đề nghị quy định tỷ lệ mức vốn nhà nước tham gia dự án PPP. Có ý kiến đề nghị đối với dự án PPP ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư thì không quy định cứng về tỷ lệ vốn nhà nước tham gia dự án PPP mà nên giao Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 71 (Sử dụng vốn nhà nước trong dự án PPP), cụ thể: tỷ lệ vốn nhà nước tham gia dự án PPP hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng thuộc dự án PPP và chi trả kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư, hỗ trợ xây dựng công trình tạm không quá 50% tổng mức đầu tư. Quy định tỷ lệ này áp dụng chung với tất cả các dự án PPP.

Đối với dự án có nhiều dự án thành phần, trong đó có dự án thành phần áp dụng phương thức PPP, thì tỷ lệ vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đối với từng dự án thành phần được xác định trên tổng mức đầu tư của dự án thành phần.

2 phương án về các quy định đối với BT

Một số ý kiến thống nhất việc tiếp tục triển khai dự án theo hình thức hợp đồng BT nhưng cần quy định chặt chẽ và minh bạch, bảo đảm xử lý được các vấn đề tiêu cực xảy ra thời gian vừa qua; sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật.

 Có ý kiến cho rằng các phương thức thanh toán cho hợp đồng BT rộng hơn quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; quy định về việc thanh toán cho nhà đầu tư bằng số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản công chưa bảo đảm thống nhất với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ý kiến khác đề nghị dừng việc triển khai mới các dự án áp dụng loại hợp đồng BT, không quy định trong Luật này về loại hợp đồng BT vì không hoàn toàn đúng bản chất của dự án PPP.

Về nội dung này do còn có ý kiến khác nhau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin trình 02 phương án để Quốc hội xem xét, quyết định, cụ thể:

Phương án 1: sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến dự án áp dụng loại hợp đồng BT theo phương thức mới theo hướng chặt chẽ hơn tại dự thảo Luật PPP, tạo lập cơ sở pháp lý thống nhất để điều chỉnh dự án áp dụng loại hợp đồng BT nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong thời gian qua và bảo đảm thống nhất với quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về ngân sách nhà nước.

Thực tiễn thời gian qua BT là phương thức thực hiện chủ yếu (56% số dự án) trong các phương thức PPP, hiện vẫn còn nhiều dự án đang triển khai. Do vậy, cần giữ phương thức đầu tư này với những sửa đổi, bổ sung các quy định chặt chẽ, thủ tục công khai, minh bạch, cạnh tranh như quy định tại dự thảo Luật. Cụ thể sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 14, khoản 6 Điều 19, khoản 3 Điều 41 và khoản 3 Điều 45 của dự thảo Luật. Đồng thời, đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các luật liên quan nhằm minh bạch hơn nữa, bảo đảm xử lý được các tiêu cực đối với việc triển khai thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng BT.

Phương án 2: không quy định về dự án áp dụng loại hợp đồng BT tại dự thảo Luật PPP; rà soát bỏ các quy định về BT tại một số điều khoản tại dự thảo Luật PPP. Dự án được thực hiện theo phương thức xây dựng - chuyển giao (BT) không hoàn toàn đúng bản chất của dự án PPP. Thực tiễn triển khai các dự án áp dụng loại hợp đồng BT thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc như xác định chưa chính xác giá trị công trình BT, giá trị quỹ đất gây thất thoát lớn, chưa bảo đảm công khai, minh bạch, cạnh tranh trong lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án, đồng thời cũng không gắn trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc bảo trì dài hạn, hỗ trợ tổ chức, đơn vị vận hành công trình. Trong bối cảnh chưa xem xét sửa đổi, bổ sung quy định tại Luật Đất đai và quy định tại một số luật liên quan một cách phù hợp thì có thể dẫn đến thất thoát lớn về nguồn lực đất đai tại các địa phương.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị lựa chọn phương án 1./.

An Nhi
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan