Cập nhật ngày 24/02/2018 - 21:13:58

           

"Soi" chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

- Nhiều kỷ lục được lập trong 2017, nhưng chất lượng tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này thể hiện qua hiệu quả sử dụng vốn – hệ số ICOR (tỷ lệ đầu tư so với GDP/tốc độ tăng trưởng GDP) và năng suất lao động xã hội ( GDP/lao động) của Việt Nam vẫn còn rất thấp.

Nhiều “kỷ lục” trong tăng trưởng kinh tế  năm 2017

Có thể nói, kinh tế Việt Nam 2017 đã có một năm khá ấn tượng bởi những thành quả đạt được. Lần đầu tiên sau nhiều năm, chúng ta đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Bội chi sau 10 năm liên tục tăng cao và vượt trần, thì năm 2017 được giữ ở mức dưới 3,5%. Dự trữ ngoại hối đạt 45 tỷ USD, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh mẽ hướng tới 1.000 điểm, cao chưa từng có trong 10 năm trở lại đây.

Môi trường kinh doanh của Việt Nam có bước tiến vượt bậc, tăng 14 bậc từ 82 lên 68/190 nền kinh tế.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2017 đạt kỷ lục mới, với trên 125.000 doanh nghiệp. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, vượt qua mức đỉnh 110.000 doanh nghiệp của năm 2016.

 Bên cạnh đó, FDI cũng ồ ạt đổ vào Việt Nam đạt hơn 33 tỷ USD.

Riêng về tăng trưởng kinh tế, GDP đạt 6,81%, vượt kế hoạch đề ra, là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Việt Nam đang có xu hướng tăng trưởng tích cực và khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh đặt ra là khả thi, tốc độ tăng trưởng không chỉ nhanh nhất từ năm 2011 đến nay, mà còn nhanh hơn mức trung bình của  khu vực Đông Nam Á(5,2%), Châu Á (6%) và toàn thế giới (3,6%) (số liệu ADB).

Kết quả tăng trưởng tổng thu nhập cao đã làm cho thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh nhất, đạt khoảng 53,5 triệu đồng (tương đương với 2385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016).

Với tỷ lệ lạm phát được không chế ở mức thấp(1,7%), tạo điều kiện để nâng cao mức thu nhập thực của dân cư. Tỷ lệ nghèo đói vì thế giảm đi khá lớn. Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo năm 2017ước tính chỉ còn 8%.

Song, hiệu quả tăng trưởng còn thấp

Điều này thể hiện qua hiệu quả sử dụng vốn – hệ số ICOR (tỷ lệ đầu tư so với GDP/tốc độ tăng trưởng GDP) và năng suất lao động xã hội (GDP/lao động) của Việt Nam vẫn còn rất thấp.

Theo đánh giá của GS, TS. Ngô Thắng Lợi (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), thì hiệu quả sử dụng vốn của năm 2017 đạt mức tương đương với 3 năm gần đây và cao hơn mức trung bình giai đoạn 2011-2017: 6,1%, tương tự như vậy, NSLĐ xã hội năm 2017 đạt 6% (cao hơn năm 2016) và cao hơn mức trung bình giai đoạn 2011-2017 khoảng 25%.

Điều đó có nghĩa là hiệu quả tăng trưởng năm 2017 cso tăng lên. Tuy nhiên, nếu xét hiệu quả sử dụng vốn, so với các nước ở vào cùng thời kỳ tăng trưởng nhanh và trình độ công nghệ tương xứng với Việt Nam thì con số 4,9 hay 5,2 (trung bình giai đoạn 2011-2017), còn quá thấp.

Nhật Bản (những năm 1970), hàn Quốc, Đài Loan (những năm 1980) cũng với mục tiêu tăng trưởng nhanh và trình độ công nghệ như Việt Nam hiện nay, nhưng hệ số ICOR chỉ là 2.5-3 (tức là chỉ bằng ½ của Việt Nam).

Nguyên nhân của hiệu quả sử dụng vốn đầu tu thấp, theo vị chuyên gia này là xuất phát từ nhiều nhân tố, trong đó đáng quan tâm nhất, đó là: (i) Phân bổ vốn đầu tư chưa hợp lý, chưa có “điểm rơi” hướng tói những ngành hay vùng động lực; (ii) Cơ cấu vốn đầu tư chưa hợp lý với tỷ lệ đầu tư công, đầu tư từ ngân sách còn quá cao; (iii) Quản lý quá trình đầu tư vốn còn nhiều bất cập.

Một nội dung khác cho thấy hiệu quả tăng trưởng của Việt Nam chưa cao đó là năng suất lao động của nước ta còn thấp.

Năng suất lao động xã hội năm 2017 đã tăng lên 6% và so với  trung bình cả giai đoạn 2011-2017, tăng lên tới 25%. Tuy nhiên, theo tính toán của Tổng cục Thống kê, ( theo sức mua tương đương năm 2011), năng suất lao động của Việt Nam đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của Indonesia; 56,7% của Philippin và bằng 87,4% của Lào.

Đáng chú ý là chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng. Chênh lệch mức năng suất lao động của Singapore và Việt Nam tăng từ 115.087 USD năm 2006 lên 131.333 USD năm 2016; tương tự, của Lào từ 220 USD lên 1.422 USD.

Năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn và ngày càng chênh lệch so với các nước được GS, TS. Ngô Thắng Lợi giải thích bởi: (i) Tỷ lệ thất nghiệp (hữu hình và trá hình) còn khá cao trong khi lao động có việc làm trình độ, năng lực lao động thấp;  (ii) Công nghệ sản xuất thấp và trung bình chiếm tỷ lệ quá cao và 90% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất; (iii) Lao động Việt Nam chủ yếu đảm nhận sản xuất các sản phẩm và công đoạn sản xuất gia công, không tạo ra sản phẩm có thương hiệu để cung ứng cho thị trường.

Vậy phải làm gì?

WB khuyến nghị Việt Nam nên tận dụng điều kiện thuận lợi để củng cố khả năng chống chịu về kinh tế vĩ mô và loại bỏ trở ngại đối với tăng trưởng trong trung hạn. Đồng thời cần tăng cường các thể chế thị trường, loại bỏ các trở ngại cho đầu tư trong nước, cải cách cơ cấu để đẩy mạnh tăng trưởng năng suất và nâng cao mức tăng trưởng tiềm năng.

Chuyên gia của WB cho rằng, hiện Việt Nam đang có cơ hội để tái tạo lại lớp đệm chính sách qua củng cố tình hình ngân sách cho bền vững, thân thiện với tăng trưởng; áp dụng chính sách tỷ giá và tiền tệ theo hướng ứng phó, xử lý nợ xấu, nâng tỷ lệ an toàn vốn và quản lý tăng trưởng tín dụng.

Việt Nam có thể tiếp tục nâng tốc độ tăng năng suất qua đầu tư vào kỹ năng và hạ tầng cần có, đồng thời tăng cường chiều sâu cải cách về môi trường kinh doanh, khu vực ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước.

Còn chuyên gia Ngô Thắng Lợi lại có những đề xuất về kích cầu. Cụ thể, theo vị chuyên gia này thì kích cầu tiêu dùng và đầu tư trong nước là chính sách có hiệu ứng “hai trong một”.

Kích cầu đầu tư nhằm mục tiêu khắc phục điểm yếu về kinh tế nội địa thời gian qua do đầu tư trong nước có xu hướng bị “chìm dần”. Năm 2017, với tỷ lệ đầu tư trên GDP  đạt 33,3% vẫn cần phải đạt mục tiêu cao hơn lên (34-35%) mới đủ lực để tăng trưởng nhanh. Nhất là tỷ lệ vốn đầu tư của khu vực tư nhân trong nướccòn thấp (khoảng 40%) cần được “kích” để cao hơn lên (khoảng 45-50%, giảm đầu tư từ khu vực nhà nước xuống khoảng 30%).

Liên quan đến “kích” cầu đầu tư khu vực tư nhân, ông Lợi cho rằng, cần thực hiện các chính sách tạo môi trường đầu tư và cơ hội bỏ vốn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư./.

Phương Anh
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan