Cập nhật ngày 30/09/201 - 23:03:38

           

Giám sát vốn nhà nước: Nhìn từ sai phạm của VNPT

- Những sai phạm trong quản lý sử dụng vốn nhà nước của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) được Thanh tra Chính phủ công bố ngày 19/7/2013 đã khiến dư luận thêm phần bức bối. Vấn đề chất lượng giám sát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lại thêm một lần nữa nổi lên trong sự lo lắng chung của xã hội.

Nhiều sai phạm tại VNPT

Theo Thanh tra Chính phủ, các sai phạm tại VNPT tập trung vào việc quản lý sử dụng vốn và tài sản trong giai đoạn 2006-2011. Cụ thể, trong khoảng thời gian này, VNPT đã triển khai thực hiện một số lượng dự án đầu tư lớn, quá trình thực hiện có nhiều dự án thay đổi, chủ yếu là tăng tổng mức đầu tư; chậm tiến độ dẫn đến tăng chi phí đầu tư, giảm hiệu quả sử dụng vốn; chậm quyết toán vốn đầu tư, nhất là các dự án mua sắm thiết bị lớn.

Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ rõ, đối với dự án cáp đồng còn tồn kho vật tư cáp các loại trị giá lên tới 70,4 tỷ đồng; dự án Cityphone lỗ và tài sản không khấu hao hết tổng cộng 168,5 tỷ đồng. Đáng chú ý, dự án đầu tư tuyến cáp quang biển trục Bắc - Nam với tổng mức đầu tư gần 3.000 tỷ đồng bằng nguồn vốn vay ODA chậm tiến độ gần 10 năm. Nguyên nhân được xác định là do khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán, thẩm tra, phê duyệt thực hiện kéo dài từ năm 2004-2007; VNPT chưa tổ chức thực hiện đúng các yêu cầu, quy định, sau nhiều lần đôn đốc của Chính phủ, Bộ Thông tin - Truyền thông.

Đối với việc đầu tư dự án Vinasat I, II với tổng mức đầu tư 9.280 tỷ đồng, tuy đạt được mục tiêu về chính trị - xã hội, nhưng theo Thanh tra Chính phủ, hiệu quả kinh tế của dự án này, nếu ở mức khai thác tốt nhất vẫn lỗ khoảng 62-130 triệu USD, trường hợp xấu nhất có thể lên tới 216 triệu USD. Đến thời điểm năm 2011, lỗ vượt dự kiến 329 tỷ đồng.

Thanh tra Chính phủ xác định, VNPT dùng hơn 3.200 tỷ đồng đầu tư tài chính theo hình thức góp vốn với 86 doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn thông, nhưng hiệu quả không cao, hàng chục doanh nghiệp không thu được lợi nhuận gây lãng phí đầu tư. Đặc biệt, VNPT phân bổ vào chi phí tài chính khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh do đánh giá lại số dư ngoại tệ tiền gửi ngắn hạn năm 2006 trị giá 25,6 tỷ đồng không đúng quy định, giảm lợi nhuận, thiếu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trích lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi thiếu so với quy định lũy kế đến năm 2011 là hơn 202 tỷ đồng. VNPT chưa thực hiện nghiêm việc xử lý trách nhiệm đối với những đơn vị và cá nhân liên quan trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, hợp đồng thu cước viễn thông…, dẫn đến phát sinh công nợ khó đòi giá trị lớn...

Qua thanh tra có thể thấy, kết quả hoạt động kinh doanh của VNPT từ năm 2006-2010 không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đề ra, dẫn đến vốn chủ sở hữu tại thời điểm ngày 31/12/2010 chưa bổ sung đủ, thiếu hơn 2.700 tỷ đồng so với quy định. Trong khi đó, VNPT thực hiện trích quỹ lương theo doanh nghiệp xếp loại A là không đúng quy định của Chính phủ, trích vượt Quỹ khen thưởng phúc lợi...

Với những sai phạm trên, Thanh tra Chính phủ kiến nghị kiểm điểm và chỉ đạo thực hiện kiểm điểm trách nhiệm cá nhân tại Công ty Mẹ của Tập đoàn VNPT và đơn vị thành viên liên quan đến những khuyết điểm, vi phạm trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản. Xử lý thu hồi về ngân sách nhà nước 105,836 tỷ đồng, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý số tiền 4.907 tỷ đồng.

“Lỗ hổng” từ khâu giám sát

Thực tế, những sai phạm của VNPT không phải là chuyện cá biệt tại các DNNN. Tại cuộc họp ngày 7/6/2012 của Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết, qua thanh tra từ cuối năm 2011 đến đầu năm 2012, đã phát hiện vi phạm của 5 tập đoàn, tổng công ty (Tập đoàn Sông Đà, Dầu khí, Hóa chất, Viettel và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam - Vinalines) với số tiền trên 30.000 tỷ đồng, ở 5 dạng sai phạm, vi phạm: Sai quy trình thủ tục theo các quy định của Nhà nước; Sai thẩm quyền; Sai đối tượng cho phép; Hạch toán không đúng nguồn dẫn đến phản ánh kết quả sản xuất, kinh doanh không đúng bản chất thực tế; Trình độ quản lý doanh nghiệp yếu kém dẫn đến vi phạm quản lý kinh tế và vi phạm pháp luật.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các sai phạm trong quản lý vốn nhà nước trở nên ngày càng nhiều trong thời gian gần đây đó là sự yếu kém và những “lổ hổng” trong công tác giám sát DNNN.

Trước hết, cần hiểu rằng, quản lý - giám sát tuy là hai khái niệm khác nhau, nhưng chứa đựng cùng một nội hàm. Giám sát là một trong những nhiệm vụ của quản lý, nhưng quản lý cần có giám sát - tức là theo dõi, xem xét, đánh giá xem đối tượng quản lý có thực hiện đúng yêu cầu và đạt được mục tiêu quản lý không? Quản lý mà không giám sát thì như không có quản lý. Giám sát của Nhà nước đối với vốn giao cho DNNN là sự theo dõi, xem xét, đánh giá của chủ sở hữu nhà nước xem DNNN có thực hiện đúng, cũng như tuân thủ các quy định, các nội dung quản lý của Nhà nước đối với vốn được giao không?

Để giám sát vốn nhà nước tại DNNN, Nhà nước đã thiết kế hệ thống giám sát và thực hiện đánh giá, xếp loại DNNN định kỳ hàng năm, nhưng thực tế, hệ thống giám sát này vẫn đang bộc lộ nhiều bất cập như sau:

- Chưa có nhiều đột phá trong quy định của Nhà nước về giám sát. Ngay từ khi các DNNN hoạt động theo Luật DNNN, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg, ngày 31/12/2003, tiếp đó là Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 6/10/2006 về việc ban hành Quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả của DNNN và Quyết định số 169/2007/QĐ-TTg, ngày 8/11/2007 về việc ban hành Quy chế giám sát đối với DNNN kinh doanh thua lỗ, hoạt động không có hiệu quả (thay thế Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg). Và, bắt đầu từ ngày 15/8/2013, Nghị định 61/2013/NĐ-CP của Chính phủ về Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước đã có hiệu lực. Nghị định này được kỳ vọng là sẽ khắc phục được những hạn chế trước đây trong công tác giám sát hoạt động của DNNN.

Điều đáng tiếc là, mặc dù các văn bản luật được ban hành rất đầy đủ, nhưng thực tế chưa có một vụ bê bối nào về tài chính ở doanh nghiệp có vốn nhà nước được phát hiện qua kiểm tra, giám sát. Minh chứng rõ ràng nhất chính là việc, trước khi những tiêu cực ở Vinashin, Vinalines bị “đưa ra ánh sáng”, thì đã có không ít đoàn thanh tra, kiểm tra xuống cơ sở để thực hiện chức năng… “giám sát”!. Tuy nhiên, mức độ kết luận chỉ dừng ở việc… rút kinh nghiệm. Từ đó cho thấy, “lỗ hổng” lớn nhất lại là do sự thiếu trách nhiệm của những cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Bởi vậy, vấn đề đặt ra chính là việc kiểm tra, giám sát phải gắn với trách nhiệm cụ thể. Các quy định của Nhà nước về giám sát chưa thực sự đi vào cuộc sống. Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm chưa đủ mạnh, dẫn đến trách nhiệm chưa rõ giữa các chủ thể giám sát, đặc biệt khi xảy ra các sai phạm tại doanh nghiệp, mà cá nhân hoặc cơ quan giám sát không phát hiện ra trước đó.

- Hệ thống tiêu chí giám sát tuy đã phân theo từng lĩnh vực, ngành nghề, nhưng còn giản đơn, chủ yếu dựa trên báo cáo tài chính định kỳ hàng năm của doanh nghiệp phần nào đã hạn chế hiệu quả của công tác giám sát. Chưa hình thành hệ thống kênh thông tin, báo cáo và liên lạc định kỳ để nắm bắt tình hình tài chính doanh nghiệp. Đặc biệt, phương thức đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNNN mang tính định tính, mà chưa thực sự coi trọng về định lượng, đảm bảo tính minh bạch trong các con số thống kê doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của nền kinh tế nói chung, của DNNN nói riêng còn đơn thuần và chủ yếu dựa vào chỉ số ICOR, cụ thể hơn là dựa chủ yếu vào chỉ tiêu tài chính.

Mặc dù trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước lượng hóa được hiệu quả hoạt động của DNNN, nhưng vẫn chưa đủ, chưa lượng hóa được đầy đủ các yếu tố: tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, lao động và vốn đầu tư…). Kết quả công tác giám sát hiện nay mới chỉ dừng ở việc tổng hợp, đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp, chưa phân tích sâu thực tế các tồn tại, cùng những nguy cơ rủi ro từ hoạt động của doanh nghiệp. Việc giám sát các vấn đề liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp chưa thường xuyên, các công việc xử lý mang tính đột xuất và sự vụ nhiều.

- Chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước còn phân tán, nên trách nhiệm trong quản lý, giám sát chưa rõ ràng. Việc trao quyền cho người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp lớn với chế độ trách nhiệm không rõ ràng, cùng với sự kiểm tra, giám sát không thường xuyên, nên tính chất cảnh báo, phòng ngừa rủi ro không phát huy hiệu quả.

Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát nội bộ trong DNNN còn chưa được coi trọng và còn nhiều bất cập. Cụ thể như trường hợp của Vinashin, Tập đoàn này hoạt động theo Nghị định số 101/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước. Theo đó, ban kiểm soát tập đoàn do hội đồng quản trị thành lập, trưởng ban kiểm soát là thành viên của hội đồng quản trị, được hội đồng phân công làm nhiệm vụ. Các thành viên của ban do hội đồng quản trị lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và ban hoạt động theo quy chế của hội đồng quản trị ban hành. Điều này, dẫn tới sự thất bại của ban kiểm soát trong việc kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động của DNNN.

Để nâng cao chất lượng giám sát vốn nhà nước

Một là, sớm ban hành Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Thực tế, việc tổng hợp, phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong những năm gần đây đã được Bộ Tài chính thực hiện (sau khi kết thúc năm tài chính), nhưng chưa đầy đủ. Nguyên nhân là do thiếu sự quan tâm phối hợp của các cơ quan được phân công thực hiện quyền chủ sở hữu, cũng như việc chấp hành chế độ báo cáo của các tập đoàn, tổng công ty chưa nghiêm túc và chưa kịp thời nên tác dụng cảnh báo và ngăn chặn còn hạn chế. Vì thế, Luật này cần phải được sớm ban hành theo hướng: xác định rõ phạm vi, đối tượng, mục tiêu, hình thức và thẩm quyền đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp. Trong đó, khái niệm vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp cũng cần phải làm rõ để đảm bảo yêu cầu quản lý, giám sát của Nhà nước, cũng như đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo Luật DNNN năm 2003, Nhà nước thực hiện giao vốn, bổ sung vốn cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đầu tư thành lập công ty con do công ty mẹ nắm 100% vốn điều lệ. Điều này đồng nghĩa công ty con là do Nhà nước đầu tư vốn, nhưng trên thực tế, công ty mẹ có thể sử dụng nguồn huy động, nguồn vốn khác (không phải vốn đầu tư của Nhà nước) để đầu tư thành lập công ty con. Tuy nhiên, những hạn chế này của Luật DNNN vẫn chưa được khắc phục trong Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật mới. Vì thế, phải sớm xác định rõ khái niệm và phạm vi vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp là số vốn do Nhà nước đầu tư trực tiếp vào công ty mẹ là tập đoàn, tổng công ty hoặc các DNNN độc lập, mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn (thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng).

Hai là, đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát nội bộ DNNN. Đây là tiền đề là điều kiện để DNNN hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng đắn, có hiệu quả. Theo đó, cần tách ban kiểm soát nội bộ ra khỏi hội đồng quản trị của doanh nghiệp, coi đó là một tổ chức độc lập, có thực quyền trong giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của DNNN, giám sát chính hội đồng quản trị. Chủ sở hữu là Nhà nước, thì ban kiểm soát cũng phải là đại diện của Nhà nước và trưởng ban kiểm soát cần phải do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm đối với những tổng công ty, tập đoàn nhà nước lớn.

Ba là, cần một ủy ban giám sát vốn nhà nước độc lập. Bên cạnh việc giao cho bộ, ngành quản lý với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty, thì phải cần một cơ quan giám sát độc lập của Chính phủ, hoặc cơ quan quản lý tài sản công. Cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Quốc hội để khách quan, công khai, minh bạch, nhằm tránh tình trạng bộ, ngành che chở cho "chính đứa con mình đẻ ra”. Phương án tối ưu là sớm chấm dứt tình trạng bộ chủ quản và cơ quan chủ quản để tách bạch giữa quản lý nhà nước với điều hành sản xuất, kinh doanh.

Bốn là, cần đẩy mạnh và nâng cao chất lượng kiểm toán độc lập. Những sai phạm về quản lý vốn nhà nước tại các DNNN đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội, khiến nhân dân mất lòng tin, vì vốn nhà nước chính là tiền thuế của người dân. Do vậy, không nên chỉ phụ thuộc vào kết quả kiểm tra của Kiểm toán Nhà nước, mà nên thuê dịch vụ kiểm toán độc lập của các hãng kiểm toán có danh tiếng của nước ngoài nhằm bảo đảm tính minh bạch của con số kiểm toán, thậm chí nên thuê nhiều hơn 1 hãng để cho kết quả được khách quan. Ngoài ra, việc kiểm toán cũng nên được thực hiện định kỳ hàng năm và có báo cáo công khai như những công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2003). Luật Doanh nghiệp nhà nước, số 4/2003/QH11, ngày 26/11/2003

2. Thanh tra Chính phủ (2013). Thông báo Kết luận thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Công văn số 1639/TB-TTCP, ngày 19/7/2013

3. Nguyễn Duy Long (2013). Cơ chế giám sát tài chính, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính, số 9/2012

Phùng Thế Hùng

Khoa Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Công đoàn

(Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 17/2013)

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan