Cập nhật ngày 27/05/201 - 10:12:43

           

Kinh tế Việt Nam: “Cỗ xe nặng nề đang chậm chạp đi”

- Sáng nay, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Kinh tế (VEPR) đã tổ chức công bố Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2013. Tại buổi công bố, VEPR đã công bố hai kịch bản kinh tế Việt Nam năm 2013.

Lễ công bố Báo cáo Kinh tế thường niên 2013 (Ảnh: Huy Thắng)

Quá chậm chạp

Đưa hình ảnh kinh tế Việt Nam giống như một cỗ xe nặng nề đang chậm chạp đi vào tương lai trên một con đường gập ghềnh, TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR cho biết, Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội do phản ứng chính sách quá chậm.

 “Rõ ràng là nền kinh tế Việt Nam đã và đang trải qua những năm tháng mà nhiều cơ hội tăng trưởng nhanh đi liền với cải cách kinh tế đã bị bỏ lỡ”, ông Thành chua xót nhận định.

Trong 5 năm qua, cuộc khủng hoảng tài chính- kinh tế thế giới cùng những khó khăn, bất ổn kinh tế trong nước đã đặt Việt Nam trước những thách thức to lớn và một nhu cầu cải cách mãnh liệt. Nhiều chương trình chính sách đã được đặt ra, đặc biệt là chương trình cải cách tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.

“Nhưng, thời gian cứ trôi qua và có nhiều lý do để ngày càng hoài nghi về khả năng đất nước có thể thực hiện được những ý tưởng cải cách cấp bách đã đặt ra”, TS. Nguyễn Đức Thành cho hay.

Nếu trong năm 2011, nền kinh tế Việt Nam đối diện trực tiếp với các thách thức tái cơ cấu kinh tế trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng suy giảm và các yếu tố hỗ trợ tăng trưởng dần suy kiệt, thì sự do dự về chính sách trong suốt năm 2012 đã đẩy nền kinh tế vào sự trì trệ chưa từng có.

Trong suốt năm, nền kinh tế tiếp tục lấn sâu vào suy giảm, tích tụ thêm những rủi ro nằm sâu trong nội tại nền kinh tế. Gần như toàn bộ nền kinh tế rơi vào trạng thái suy kiệt khi cả đầu tư và tiêu dùng cá nhân (hai thành tố chính trong tổng cầu) tiếp tục thu hẹp, còn Chính phủ cho đến tận cuối năm cũng không đưa ra giải pháp nào mang tính nền tảng (cơ cấu), mà vẫn chỉ dừng ở các chính sách hỗ trợ tổng cầu.

 Trên các thị trường chính, không có chuyển biến đột phá khi những điểm tắc nghẽn mấu chốt là nợ xấu và hàng tồn kho chưa được khai thông, khu vực bất động sản tiếp tục đông cứng và suy giảm. Sự suy yếu của môi trường kinh doanh và đầu tư cùng với lãi suất tín dụng vẫn bị kẹt ở mức cao, đã buộc hơn năm vạn doanh nghiệp rời khỏi thị trường, cuốn đi thành quả của nhiều năm cải cách.

 Một số chỉ số vĩ mô được xem là tích cực cần được cân nhắc thận trọng trong tương quan chung với toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt sức sống thực sự của khu vực doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng môi trường kinh doanh nói chung và các ngành sản xuất nói riêng.

Kết quả chưa đạt như kỳ vọng

Theo nhóm nghiên cứu của VEPR, năm 2012 có thể xem như một năm không thành công về thực thi những ý tưởng chính sách đã được đề ra trong năm 2011 và những năm trước đó. Tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng hầu như không đạt được bước tiến nào đáng kể. Các đề án tái cơ cấu được đề xuất nhưng chưa đồng bộ, đặc biệt các đề án quan trọng như đề án tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và đề án xử lý nợ xấu đã không được thông qua trong năm 2012.

Các biện pháp tài khoá chưa đạt hiệu quả vì do dự trong quyết định chính sách, đồng thời sự hạn chế ngày một hiện rõ từ nguồn thu đang thu hẹp. Quan điểm điều hành chính sách tiền tệ về căn bản là đúng đắn và bám sát thực tiễn, song vấp phải phản kháng vì những nhân tố lịch sử cùng với cách đưa ra thông điệp chính sách gây nhiều tranh cãi, thậm chí là cả sự hiểu nhầm. Sự minh bạch và cơ chế giao tiếp với công chúng về nội dung chính sách rõ ràng cần phải cải thiện trong các năm tiếp theo.

Hai kịch bản năm 2013

Khi năm 2013 kết thúc cũng là thời điểm đánh dấu một giai đoạn 6 năm sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (2008-2013). Trong quãng thời gian đó nền kinh tế chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 5,8%/năm, so với mức trung bình 7,8%/năm trong giai đoạn 6 năm trước đó (2002-2007).

Đồng thời, lạm phát bình quân hàng năm trong giai đoạn 6 năm trước đó chỉ là 7,35%, còn giai đoạn hiện nay là 11,5%.

Nhận định tình hình hiện nay cũng tương tự như năm 2012, theo ông Thành, năm 2013 tiếp tục có thêm dư địa chính sách nhờ lạm phát tương đối thấp, nhưng các vấn đề của nền kinh tế thực vẫn là điều đáng lo ngại nhất. Doanh nghiệp tiếp tục suy yếu, các giải pháp chính sách không đủ mạnh và môi trường truyền dẫn chính sách kém hiệu quả, làm biến dạng mục tiêu mong muốn, đều là những nhân tố cản trở sự phục hồi kinh tế.

Trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế những năm qua, cùng kinh nghiệm của các nước, nhóm chuyên gia đưa ra hai kịch bản dự báo.

Kịch bản thấp dự báo mức tăng trưởng đạt khoảng 5,04%, trong khi kịch bản cao hơn cũng chỉ đạt mức là 5,35% (tất cả đều tính theo phương pháp tính GDP mới, theo giá cố định năm 2010).  Lạm phát của cả năm 2013 được dự báo đạt mức tương đối ổn định, trong vùng dự kiến từ 4,95% đến 6,64%.

Một loạt vấn đề ngắn và trung hạn được đặt ra cho Việt Nam, bao gồm việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống tài chính và hồi sinh khu vực doanh nghiệp. Vấn đề hồi phục thị trường bất động sản với một khuôn mặt mới, triết lý kinh doanh mới, để thông qua đó hỗ trợ hệ thống tài chính – tín dụng phục hồi cũng là một nhu cầu cấp bách. Thêm vào đó, những vấn đề dài hạn cần được đặt ra thông qua những bước đi cụ thể ngay từ lúc này, bao gồm việc cải thiện môi trường kinh doanh, khôi phục niềm tin của dân chúng và nhà đầu tư, giảm mệnh lệnh hành chính và can thiệp nhà nước trong hoạt động kinh tế, cải cách quan hệ đất đai và cấu trúc thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp.

Với những vấn đề căn bản, nhóm nghiên cứu cho rằng, cần giải quyết nợ xấu, sau sự ra đời của VAMC là việc tạo dựng thị trường mua bán nợ và cơ chế khơi thông nguồn lực mua nợ từ nhà đầu tư trong nước và quốc tế;

Cùng với đó, cổ phần hóa DNNN để vừa cải thiện ngân sách, vừa thực hiện táic ơ cấu nền kinh tế. Cần phân tích những nguy cơ về quỹ đạo phát triển khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các liên kết quốc tế có mức độ tự do cao (ACFTA, TPP, các FTAs khác);

Ngoài ra,cần giải quyết vấn đề phân cấp trong quản lý nguồn lực đất nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa chi thường xuyên và chi đầu tư; Cải thiện mức độ cam kết thực hiện lộ trình cải cách, tái cơ cấu; Hoạch định chính sách phát triển ngành thực dụng, rõ ràng và hiệu quả hơn; Chủ động định hướng thị trường lao động tái cơ cấu theo chiều nâng cao chất lượng;  

Ngoài ra, cần lưu ý những vấn đề còn bỏ ngỏ của tái cấu trúc NHTM và xử lý nợ xấu; Những biện pháp cải cách DNNN triệt để và hiệu quả; Thiết kế lại cơ chế đầu tư công và hiệu quả nguồn lực công; Định hướng chính sách thương mại qua các công cụ thị trường; Chú trọng phân bổ nguồn lực, tạo dựng cơ chế khơi thông đầu tư sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.

Chia sẻ một vấn đề đã được thảo luận rất nhiều là Việt Nam là xem xét lại mô hình kinh tế vừa qua và sớm định hướng một mô hình mới, theo TS. Nguyễn Đức Thành, nếu tiếp tục né tránh nhận thức một cách dứt khoát và rõ ràng về mô hình mới cho phát triển kinh tế, cùng những thể chế hỗ trợ phù hợp, thì các cuộc cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự, và Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội đi tới tương lai bằng con đường bằng phẳng./

Phương Anh
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan