Cập nhật ngày 02/05/2013 - 22:26:26

           

Kinh tế Việt Nam: Phân tích - Nhận định - Dự báo

- LTS: Tạp chí Kinh tế và Dự báo sẽ lần lượt trích đăng kết quả phân tích, nhận định và dự báo của nhóm nghiên cứu độc lập thuộc ĐHVP Research – DHVP Ecopolitik cung cấp, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Việt Nam 2013: Thách thức lộ rõ với khởi động chậm chạp

HIS Global Insight – hệ thống phân tích thông tin địa kinh tế, kinh doanh, công nghiệp toàn cầu, hoạt động từ 1959, đánh giá mức tăng trưởng GDP thấp 4,9% của quý I/2013 bộc lộ rõ những thách thức mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối diện. Trở ngại lớn nhất là sức cầu yếu.

Để kích thích tăng trưởng, HIS dự báo Ngân hàng Nhà nước sẽ cắt giảm lãi suất, nhưng sẽ không giảm nhiều hơn 1% bởi lạm phát luôn sẵn sàng quay trở lại. Dự kiến tăng trưởng 2013 có thể đạt 5,2%.

Những dự kiến thay đổi trong bản Hiến pháp mới của Việt Nam cũng thu hút quan tâm của giới làm ăn quốc tế. Nếu vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước không còn được nhắc tới trong bản Hiến pháp mới, rất nhiều nhà đầu tư sẽ nghĩ tới cơ hội tại Việt Nam.

Khải sát mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lần đầu có dự báo bi quan cho triển vọng kinh doanh hai năm tới tại Việt Nam. Rủi ro kinh doanh có nguy cơ cao nhất lần lượt là: bất ổn chính trị, cam kết thực hiện hợp đồng, thay đổi chính sách, an toàn lao động, và tham nhũng.

“Vị đắng” của giọt cà phê

Thất bại của Vinashin, Vinalines, những con số thua lỗ, nợ nần hàng chục ngàn tỷ đồng của các tổng công ty, tập đoàn nhà nước không còn gây ngạc nhiên. Tuy nhiên, việc cà phê – nguồn tài nguyên tái tạo lớn bậc nhất của Việt Nam- từ tài sản quý lại được Vinacafe chuyển thành gánh nặng nợ nần là điều thực sự gây bất ngờ.

Báo Đất Việt, ngày 4/4/2013, cho biết: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa hai phương án tái cơ cấu để Hội đồng thành viên của Vinacafe lựa chọn:

+ Bán nhà máy chế biến cà phê Đà Lạt, bán trụ sở văn phòng tổng công ty và các tài sản khác, thoái vốn tại các công ty cổ phần hoạt động kinh doanh kém hiệu quả hoặc không thuộc ngành nghề kinh doanh chính để có tiền trả các khoản vay quá hạn;

+ Sáp nhập vào các Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) và trở thành tổng công ty trực thuộc VRG.

Cà phê là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Năm 2012, 1,7 triệu tấn cà phê xuất khẩu mang lại hơn 3,4 tỷ USD. Việt Nam trở thành quốc gia cung ứng cà phê lớn nhất thế giới. Thị trường và ngành công nghiệp cà phê Việt Nam cũng có tiềm năng phát triển lớn, hấp dẫn các đối tác toàn cầu (như Starbuck, Nestle) và các tập đoàn kinh doanh nội địa có tiềm lực mạnh (như Trung Nguyên, Masan, từng có cả Vinamilk).

Trong ngành cà phê Việt Nam, Vinacafe có lợi thế hơn hẳn khi được Nhà nước giao vùng nguyên liệu, hỗ trợ về cơ chế tín dụng, tiếp nhận công nghệ… Nhưng nhiều nguồn nhân lực hơn chỉ làm cỗ máy kinh doanh Vinacafe thêm “ngộ độc” nặng nề!

Một tài sản sinh lỗ trong tay của Vinacafe, nhưng lại được đơn vị kinh doanh khác sẵn sàng tiếp nhận để vận hành thu lợi. Công ty TNHH MTV cà phê Eatul (Đắk Lắk), đơn vị 100% vốn của Vinacafe, đã chuyển nguyên trạng gồm 400 héc ta cà phê, số tiền nợ quá hạn, lãi vay quá hạn trả nợ ngân hàng cũng như toàn bộ lực lượng lao động cho tỉnh Đắk Lắk để sau đó giao lại cho Công ty cà phê Trung Nguyên.

Điều gây phẫn nộ là trong khi kinh doanh kém (lỗ luỹ kế đến hết 2012 là 382,5 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu chưa tới 1% tổng kim ngạch ngành cà phê), vẫn tiếp tục đề nghị được cấp thêm nguồn lực. Số tiền đề nghị cấp bổ sung lên tới gần 8.000 tỷ đồng:

- Được vay thêm 1.969 tỷ đồng để triển khai tái canh 11.000 ha cà phê;

- Được cấp 240 tỷ đồng để nâng cấp 28 công trình thuỷ lợi;

- Cấp bổ sung vốn kinh doanh 1.000 tỷ đồng;

- Xoá nợ ODA 61 tỷ đồng;

- Xử lý nợ ODA (thực chất là xoá nợ): 211 tỷ đồng;

- Vay 4.500 tỷ đồng để tạm trữ 100.000 tấn cà phê/năm.

Không có thông tin về các cam kết hiệu quả kinh doanh của Vinacafe nếu đề nghị được đáp ứng.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam: Sở hữu chéo và quản trị nội bộ

Việc ông Đặng Văn Thành và con trai Đặng Hồng Anh bị Sacombank phong toả 80 triệu cổ phần của chính ngân hàng (SRB: HOSE) để cấn trừ vào các khoản vay, đầu tư trái phiếu và phải thu khác của gia đình cổ đông sáng lập Sacombank này bổ sung thêm bằng chứng về điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam: sở hữu chéo chằng chịt và quản trị nội bộ tồi.

Trong thời gian ông Thành giữ quyền điều hành và kiểm soát Sacombank, ngân hàng này đã thực hiện nhiều giao dịch vốn với các công ty do chính gia đình ông sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần chi phối. Tờ Dân trí, ngày 2/4, liệt kê:

- Công ty Tín Việt nợ: 171,737 tỷ đồng

- Công ty địa ốc Sài Gòn Thương Tín (Sacomreal) vay: 678,227 tỷ đồng

- Sacomreal phát hành trái phiếu doanh nghiệp: 329,386 tỷ đồng

- Công ty Thành Thành công vay: 18,023 tỷ đồng

- Công ty Thành Thành công phát hành trái doanh nghiệp: 192,341 tỷ đồng

- Công ty Đặng Huỳnh bán cổ phần: 148,351 tỷ đồng

- Công ty Thành Ngọc vay 58,788 tỷ đồng

Vào các ngày 5 và 10/12/2012, ông Thành và con trai lần lượt ký thoả thuận đồng ý sử dụng khoản sở hữu vốn tại Sacombank tương đương 7,435% (hơn 79,84 triệu cổ phiếu) để cấn trừ các nghĩa vụ tài chính.

Ngày 3/4, Chủ tịch hiện thời của Sacombank Phạm Hữu Phú cho biết, số tiền vay của các doanh nghiệp liên quan tới ông Thành từng lên tới 7.000 tỷ đồng.

Sử dụng lợi thế sở hữu và kiểm soát vận hành ngân hàng để cấp vốn giá rẻ cho các cơ sở kinh doanh có lợi ích liên quan của giới chủ ngân hàng không còn là chuyện mới với công chúng Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp thì từ lâu đã hiểu rõ lợi ích liên quan của giới chủ ngân hàng không còn là chuyện mới với công chúng Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp từ lâu đã hiểu rõ lợi ích của sở hữu chéo giữa tài chính – ngân hàng và sản xuất – thương mại. Một bằng chứng là làn sóng nâng cấp ngân hàng nông thôn lên ngân hàng thương mại cổ phần và lập mới ngân hàng những năm 2006-2007, với các ông chủ, bà chủ ngân hàng là những người sở hữu công ty, tập đoàn kinh doanh.  

Tác hại và thiệt hại từ hành vi này bắt đầu được nhắc tới khi nền kinh tế Việt Nam rơi vào khó khăn, cộng đồng doanh nghiệp suy kiệt nguồn lực, khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Sở hữu chéo trở nên nghiệm trọng với những cáo buộc vi phạm pháp luật dành cho những nhân vật như Nguyễn Đức Kiên và nhóm lãnh đạo Ngân hàng ACB.

Lợi dụng sở hữu chéo để cấp vốn giá rẻ từ ngân hàng cho “doanh nghiệp thân hữu” dẫn tới phân bổ bất hợp lý nguồn lực của nền kinh tế. Nhóm doanh nghiệp nhận được dòng vốn lớn với chi phí thấp sẽ có năng lực cạnh tranh vượt trội, mà không cần tới bất kỳ cải thiện nào trong quản lý, hay tiến bộ trong công nghệ sản xuất. Cùng lúc đó, phần còn lại của nền kinh tế phải gánh chịu chi phí vốn cao và bị bào mòn năng lực cạnh tranh. Các dòng vốn chảy ngược quy luật tất yếu sẽ làm cho sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế suy giảm.

Để bù đắp năng lực kinh doanh yếu, nhóm doanh nghiệp thân hữu ngày càng đòi hỏi lượng vốn đầu vào lớn hơn, khiến nguồn vốn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh với phần còn lại của xã hội trở nên khan hiếm và đẩy chi phí vốn lên cao. Trong vòng xoáy này, đại bộ phận doanh nghiệp đi tới chỗ không thể đạt được hiệu suất lợi nhuận đủ trang trải chi phí đầu vào (trong đó, chi phí vốn có tỷ trọng đáng kể nhất). Hậu quả là tình trạng co hẹp sản xuất, thua lỗ và phá sản tràn lan. Lúc này xuất hiện cơ hội để các doanh nghiệp dồi dào tài chính triển khai mạnh mẽ các hoạt động thâu tóm. Các thế lực độc quyền ra đời.

Sự tồn tại của hành vi thao túng và lũng đoạn hoạt động ngân hàng thông qua sở hữu chéo là tín hiệu báo động năng lực quản trị nội bộ yếu kém tại những tổ chức kinh doanh dựa trên niềm tin của công chúng và thường được quan niệm là có tính chuyên nghiệp cao này. Trong trường hợp Sacombank, Thanh tra Nhà nước đã kết luận:

Các khoản vay liên quan đến công ty gia đình ông Thành và nhóm công ty liên quan đến Công ty Thành Thành Công đều trái quy định. Bởi, Luật Các tổ chức tín dụng không cho phép một ngân hàng cho nhóm công ty liên quan đến thành viên Hội đồng quản trị vay quá 25% vốn điều lệ của ngân hàng đó. Trong khi đó, số tiền mà Sacombank cho các công ty gia đình ông Thành và nhóm công ty liên quan đến Công ty Thành Thành Công vay đã lên tới 7.000 tỷ đồng, tương đương hơn 51% vốn điều lệ của ngân hàng này – 10.700 tỷ đồng. Vì thế, Ngân hàng Nhà nước đã đề nghị đến hết tháng 12/2013, Sacombank phải giảm tỷ lệ cho vay đối với nhóm công ty liên quan đến ông Thành và Công ty Thành Thành Công về mức 25% vốn điều lệ.

Quy mô các khoản tín dụng sai pháp luật rất lớn, thời gian tiến hành các hoạt động sai phạm hẳn cũng còn rất dài. Thế nhưng, hệ thống quản trị nội bộ và quản trị rủi ro của Sacombank đã không thể phát hiện, nếu không phải là cố tình không phát hiện.

Sacombank là công ty đại chúng, niêm yết trên thị trường chứng khoán từ ngày 27/8/2008. Như vậy, lực lượng giám sát ngân hàng này ít nhất gồm: (i) cổ đồng, (ii) cơ quan quản lý thị trường chứng khoán; và (iii) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Mọi thiết chế quản trị dường như đã bị bỏ qua tại Sacombank. Kết luận của thanh tra Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đặt ra chỉ tiêu kỹ thuật, không thấy nêu lên trách nhiệm của người gây lỗi, của các bên giám sát và quản lý.

Thông tin liên quan Sacombank đang dần được công bố. Sự việc có thể sớm khép lại. Nhưng sở hữu chéo nhằng nhịt và quản trị nội bộ yếu còn tiếp tục gây ra nhiều hệ luỵ.

Giải cứu bất động sản Việt Nam: Tranh cãi còn lâu

Phần đông người Việt Nam bị ám ảnh về sở hữu bất động sản, với tâm lý “an cư lạc nghiệp”. Kinh doanh bất động sản trong nhiều thập kỷ là ngành đầu cơ lợi nhuận cao. Bất động sản cũng không phải lần đầu gặp “sóng gió”, nhưng chưa giai đoạn nào bất động sản Việt Nam gặp khó khăn như từ cuối năm 2010 tới nay.

Sau các cơn sốt đất vào những năm 1993-1994, 2000-2003 và 2007-2008 thị trường bất động sản chỉ rơi vào trạng thái “bất động ở giá cao” - tức là thị trường không có giao dịch và giá bất động sản vẫn giữ ở mức cao.

Trong bối cảnh đình trệ kinh tế hiện tại, giá tài sản nhà đất liên tục sụt giảm nhiều chục phần trăm, còn thanh khoản gần như “biến mất”!.

Quan hệ liên thông giữa các thị trường bất động sản, chứng khoán và tiền tệ đã được cảnh báo từ 2008 (xem Tạp chí Cộng sản), càng làm trầm trọng thêm tình hình. Giá giảm và không bán được hàng khiến doanh nghiệp bất động sản phá sản, đóng cửa. Nợ nần và kiện tụng phổ biến. Cổ phiếu bất động sản rớt giá thê thảm làm bốc hơi hàng nghìn tỷ đồng của các công chủ bất động sản (Ví dụ: Bà Nguyễn Thị Như Loan và con trai Nguyễn Quốc Cường mất gần 2.500 tỷ đồng tài sản sau hơn 2 năm niêm yết Công ty cổ phần Quốc Cường Gia Lai (QCG:HSX). Ngân hàng dừng cấp tín dụng cho bất động sản, tìm mọi cách thu hồi các khoản vay, và bất đắc dĩ trở thành nhà kinh doanh bất động sản trong nỗ lực phát mãi tài sản siết nợ.

Những “kiến nghị”, “đề xuất”, rồi “yêu cầu” Chính phủ thực hiện “giải cứu bất động sản” đang xuất hiện với cường độ ngày càng mạnh mẽ. Sau nhiều lần được các “chuyên gia” khẳng định “đã tới đáy”, giải cứu bất động sản vẫn tiếp tục là chủ đề của các cuộc tranh luận mọi lúc, mọi nơi.

Có ba nhóm lực lượng tham gia tranh luận:

i - Các nhà kinh doanh bất động sản. Đây là nhóm bức xúc nhất với sự xuất hiện chậm trễ của các gói cứu trợ. Nhóm này gây rối loạn quá trình hoạch định chính sách của cơ quan quản lý và chọc giận công chúng bằng những đề xuất vị kỷ và thiển cận. Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Tp. Hồ Chí Minh, ông Lê Hoàng Châu, hồi đầu tháng 3-2013, đề xuất đánh thuế thu nhập với các khoản tiết kiệm trên 500 triệu đồng để “nắn” dòng tiền vào bất động sản. Chủ tịch Câu lạc bộ Bất động sản Hà Nội Nguyễn Hữu Cường cảnh báo ‘nếu để rơi tự do’ các tổ chức không liên quan gì bất động sản sẽ nhảy vào vơ vét và ôm một thời gian sau đó lại thổi giá để kiếm lời”. Đây đều là những lập luận hết sức mâu thuẫn. Vừa muốn xã hội trợ giúp bất động sản thoát hàng bằng mọi cách, lại vừa yêu cầu đảm bảo lợi nhuận cho giới kinh doanh bất động sản. Những “lời đề nghị khiếm nhã” kiểu này chỉ có một cách thoả mãn: “đưa luôn tiền cho họ, nhiều càng tốt và đừng có hỏi tiền đó đi đâu hay để làm gì!”.

Bức xúc của các nhà kinh doanh bất động sản là có thể hiểu được khi họ đã dùng “trăm phương ngàn kế” mà thanh khoản thị trường không mảy may cải thiện. Trạng thái tâm lý u uất mới đây đã tìm được chỗ để xả: Alan Phan.

ii - Alan Phan và một số ít chuyên gia có cùng quan điểm là để mặc thị trường tự điều chỉnh, chấp nhận bất động sản rớt giá thêm nữa, chấp nhận có thêm doanh nghiệp bất động sản đổ vỡ, chấp nhận ngân hàng mất mát nợ xấu... để khôi phục trạng thái cân bằng lành mạnh của thị trường. Đây là quan điểm hợp lý, được đưa ra từ trải nghiệm trên các thị trường tài chính tiên tiến và hiểu biết các giá trị văn minh của kinh tế hiện đại. Điểm yếu trong lập luận này là các bằng chứng thực nghiệm.

Với một thái độ cố chấp và khăng khăng giữ phần đúng, các nhà kinh doanh bất động sản phản bác Alan Phan dữ dội. Alan Phan chấp nhận đối thoại nhưng thuyết phục những cái đầu nóng là nhiệm vụ bất khả thi.

iii- Cơ quan quản lý cũng tích cực bàn cách tháo gỡ khó khăn cho bất động sản, và có vẻ đồng ý giải cứu dù cụ thể ra sao còn chưa rõ. Các lập luận từ phía quản lý lòng vòng: bất động sản quan trọng, sụp đổ sẽ ảnh hưởng lớn nên phải giải cứu, muốn cứu được phải bơm tiền (vốn), đưa tiền lại kẹt nhiều bề, nên muốn bền vững phải cứu bằng cơ chế, mà cơ chế giải cứu là phải tạo thanh khoản, nhưng không làm sụt giá nhà.

Tựu trung, cuộc tranh cãi làm sao để giải cứu bất động sản còn lâu nữa mới tới hồi kết thúc, trong khi “con bệnh” vẫn nằm chờ thuốc!.

Thị trường chứng khoán Việt Nam: Tăng trong mong manh

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm trong 3 tháng đầu năm 2013, bộc lộ nhiều thách thức không dễ vượt qua.

Chứng khoán Việt Nam, trong khi đó, lại có quý đầu năm tăng trưởng khả quan với VNIndex tăng 18,7%; các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng 3.688 tỷ đồng trên HSX và 407 tỷ đồng trên HNX.Đà tăng tiếp tục kéo dài sang nửa đầu tháng tư, đã có phiên VNIndex đạt 511 điểm; HNX đạt 61,50 vào cuối tháng 3 đầu tháng 4.

Bối cảnh kinh tế Việt Nam chưa ghi nhận các dấu hiệu cải thiện trong khi chi phí sản xuất và sinh hoạt vẫn tiếp tục tăng lên: xăng lập kỷ lục giá lên 24.580đ/lít, sau đó vài ba tuần thì giảm được 500 đồng; sữa tăng giá ba lần kể từ đầu năm 2013; lương cơ bản điều chỉnh tăng; giá điện sắp tăng; viện phí còn chờ lệnh tăng ở một số địa phương lớn...

Động lực tăng giá chứng khoán vào lúc này không phải các yếu tố vĩ mô, mà đến từ tâm lý đầu cơ của những người tham gia thị trường. Trong trạng thái kinh tế trì trệ kéo dài, cơ hội kinh doanh sinh lời ngày càng trở nên ít ỏi. Dòng vốn không có nhiều lựa chọn khi bất động sản đóng băng, lãi suất tiền gửi ngân hàng hạ thấp, thị trường vàng trở thành sân chơi độc quyền nhà nước. Chứng khoán hấp dẫn giá rẻ (tương đối so với thời gian trước) và khả năng kiếm những khoản lợi nhuận vài chục phần trăm chỉ trong khoảng thời gian tính bằng ngày.

Diễn biến tích cực của các thị trường chứng khoán thế giới cũng góp phần khích lệ các quyết định đầu tư vào chứng khoán Việt Nam. Nhưng phần rộng lớn của bức tranh kinh tế thế giới đang phủ màu xám. Sự ảm đạm này sớm muộn gì cũng phản ánh vào giá cổ phiếu toàn cầu. Tăng giá chứng khoán Việt Nam là sự phản ánh hợp lý của tâm lý đầu cơ, kiếm lợi ngắn. Một xu thế mong manh./.

Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 8/2013

Vương Quân Hoàng

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan