Cập nhật ngày 16/04/2020 - 23:49:11

           

Đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2011-2020: Kết quả và những hạn chế cần khắc phục

- Mặc dù các chỉ tiêu năng suất được cải thiện, cho thấy sự chuyển dịch trong mô hình tăng trưởng theo hướng chiều sâu, nhưng theo đánh giá của CIEM, kết quả này chưa đủ mạnh để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cho cả giai đoạn.

Từ những mục tiêu chiến lược…

Chiến lược phát triển kinh tế 10 năm 2011-2020 đề ra mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững.

Chiến lược cũng nhấn mạnh các giải pháp thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại và điều chỉnh chiến lược phát triển doanh nghiệp; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.

Quyết định số 339/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thế tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020, ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ đề ra mục tiêu tổng quát là đến năm 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, bảo đảm chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Cùng với tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành hàng loạt các quyết định về tái cơ cấu chuyên ngành.

Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Cụ thể hóa chủ trương nói trên, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ra Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Sau đó, ngày 18/11/2016, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Cũng trong năm 2016, Quốc hội khóa XIV ban hành Nghị quyết số 24/2016/QH14, ngày 08/11/2016 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.

Thực hiện các nghị quyết nói trên của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 27/NQ-CP, ngày 21/02/2017 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14, ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 27).

Giai đoạn 2016-2020, Chính phủ đã xác định và cụ thế hóa hàng loạt các mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 với rất nhiều các mục tiêu định lượng. Bên cạnh các mục tiêu được nêu tại Nghị quyết số 27, các kế hoạch cơ cấu lại các nội dung như: cơ cấu lại đầu tư công; cơ cấu lại DNNN; cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực… cũng đưa ra các mục tiêu riêng cần đạt được đến năm 2020.

…đến kết quả đạt được trong thực tế

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), giai đoạn 2011-2020, năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh trong toàn nền kinh tế đã được cải thiện theo thời gian.

 Năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp giai đoạn 2016-2020 tăng cao hơn giai đoạn 2011-2015, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế. Mô hình kinh tế đã có xu hướng chuyển dịch theo chiều sâu, đóng góp của gia tăng mức độ hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng năng suất và chất lượng đóng góp ngày càng nhiều hơn cho tăng trưởng.

Năng lực cạnh tranh quốc gia được cải thiện theo thời gian. Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa không ngừng được cải thiện, giúp hàng hóa của Việt Nam trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng mở rộng được thị trường, tận dụng được các hiệp định thương mại tự do đã ký kết. Năng suất, chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao, thâm nhập được vào các thị trường khó tính hơn, chú trọng xây dựng thương hiệu, gia tăng giá trị xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu thị trường.    

Cũng theo CIEM, ba trọng tâm cơ cấu lại nền kinh tế được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu đã được triển khai và có các kết quả nhất định.

Đối với đầu tư công, nổi bật là kỷ luật kỷ cương đầu tư được tăng cường, hạn chế bớt dàn trải, tập trung vào những lĩnh vực, công trình quan trọng, thiết yếu, gia tăng hiệu quả đầu tư. Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu đã được triển khai khá quyết liệt, giảm dần các tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém, giảm tỷ lệ nợ xấucải thiện an toàn hệ thống. Cơ cấu thị trường tài chính có sự điều chỉnh theo hướng gia tăng quy mô thị trường chứng khoán. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước có bước được đẩy mạnh, tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động, bước đầu tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước thông qua thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Cơ cấu kinh tế lại các ngành có sự chuyển biến tích cực, thể hiện ở sự gia tăng năng suất nội ngành. Ứng dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ phổ biến hơn. Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu nhiều hơn sang thị trường các nước, chiếm lĩnh các thị trường khó tính hơn.

Các thị trường đã có bước hoàn thiện, từ việc hoàn thiện thêm hệ thống pháp luật đến tăng cường cơ chế thực thi đảm bảo hệ thống thị trường vận hành hiệu quả. Thị trường vốn phát triển mạnh hơn, góp phần huy động vốn hiệu quả hơn cho nền kinh tế. Thị trường khoa học, công nghệ, thị trường lao động được thúc đẩy phát triển. Môi trường đầu tư kinh doanh có sự chuyển biến rõ hơn, giảm phiền hà và giảm chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp.

Song, vẫn còn nhiều hạn chế

Mặc dù các chỉ tiêu năng suất được cải thiện, cho thấy sự chuyển dịch trong mô hình tăng trưởng theo hướng chiều sâu, nhưng theo CIEM, kết quả đạt được chưa đủ mạnh để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cho cả giai đoạn.

Tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2011-2020 là 6,35%/năm, thấp hơn nhều so với mục tiêu chiến lược là 7-8%/năm và thấp hơn so với kinh nghiệm phát triển của các nước thành công (Nhật Bản, Hàn Quốc).

Mô hình tăng trưởng chưa thực sự “kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu”.

Hai chỉ tiêu về số lượng 1 triệu doanh nghiệp và 15.000 hợp tác xã hoạt động hiệu quả chưa đạt được, thể hiện kết quả đạt được còn hạn chế cả về tăng trưởng theo chiều rộng lẫn phát triển theo chiều sâu. Điều kiện thuận lợi để khai thác phát huy tăng trưởng theo chiều rộng, gia tăng vốn đầu tư tư nhân chưa được đảm bảo. Trong khi đó, phương thức tăng trưởng chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt.

Cơ cấu lại nền kinh tế chưa đạt được tiến bộ mạnh mẽ trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, từ đó chưa thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Môi trường kinh doanh được cải thiện chủ yếu ở lĩnh vực điều kiện gia nhập thị trường. Hệ sinh thái hỗ trợ, nuôi dưỡng doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, chưa có nhiều tiến bộ. Khu vực doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa được tạo điều kiện để phát triển lớn mạnh hơn.

Những bất cập thể chế về đất đai, quyền tài sản bao gồm giao dịch đảm bảo, xử lý tài sản thế chấp, thủ tục phá sản... vẫn chậm được giải quyết.

Những giải pháp cần thực hiện trong giai đoạn mới

Để cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng trong 10 năm tới và giai đoạn 2021-2025 trước mắt, CIEM cũng đề xuất thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, thúc đẩy cải cách DNNN, trọng tâm là hoàn thiện quản trị và phát triển DNNN, tiếp tục thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn.

Theo đó, cần sửa đổi căn bản chính sách, quy định pháp luật để đảm bảo DNNN có đầy đủ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo cơ chế thị trường; Khẩn trương hoàn thành mục tiêu tách người quản lý DNNN ra khỏi biên chế công chức, viên chức nhà nước; Tiếp tục cải cách thể chế và cách thức quản lý theo chuẩn mực quốc tế về quản trị DNNN; Triệt để áp dụng cổ phần hóa và thoái vốn theo nguyên tắc thị trường; Áp dụng đầy đủ các công nghệ 4.0 để chuyển đổi từng doanh nghiệp; đồng thời, hỗ trợ, tạo áp lực và khuyến khích DNNN tiên phong trong phát triển công nghệ 4.0.

Thứ hai, cần cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.

Để làm được điều đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, bảo đảm hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế: đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo mức độ hiệu quả kinh tế và các ưu tiên về cơ cấu lại nền kinh tế; Tập trung vốn đầu tư công và các nguồn vốn đầu tư khác thực hiện một số dự án đầu tư hạ tầng trọng điểm và tại các vùng kinh tế trọng điểm; Rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà tài trợ triển khai nhanh các dự án đầu tư.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa quá trình theo dõi, đánh giá đầu tư nhằm công khai, minh bạch, tăng cường giám sát đối với đầu tư công.

Thứ ba, đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu, xây dựng thị trường vốn hoạt động hiệu quả.

Cụ thể, cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với tăng cường, đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, triển khai quyết liệt, toàn diện các biện pháp quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14; Đẩy mạnh việc thực hiện Chuẩn mực an toàn vốn Basel II; Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống công nghệ, tăng cường ứng dụng công nghệ 4.0 vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro.

Thứ tư, cần cơ cấu lại các ngành công nghiệp theo hướng thúc đẩy nâng cao năng suất nội ngành, gia tăng nội địa hóa, cơ cấu lại thị trường xuất, nhập khẩu.

Thứ năm, đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, thúc đẩy chế biến nông sản, cơ cấu lại thị trường xuất khẩu, phát triển thị trường trong nước: Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo vùng nhằm khai thác tối đa lợi thế, tiềm năng của mỗi vùng và của từng địa phương; gắn với xây dựng nông thôn mới, theo 3 trục sản phẩm (sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm chủ lực cấp tỉnh, sản phẩm chủ lực địa phương); Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ứng dụng công nghệ hiện đại, dẫn dắt chuỗi nông sản; Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, tổ chức sản xuất, tăng quy mô, kết nối hộ nông dân, xây dựng chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp…

Thứ sáu, cơ cấu lại các ngành dịch vụ theo hướng phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, giá trị gia tăng cao, phát triển và tái cơ cấu thị trường du lịch, thương mại nội địa, thương mại điện tử. Theo đó, cần phát triển ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức, công nghệ cao (hàng hải, logistics, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hàng không, dịch vụ thương mại, phân phối lưu thông; dịch vụ giáo dục, đào tạo; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; các loại dịch vụ tư vấn tài chính, ngân hàng, pháp lý) trên cơ sở áp dụng đồng bộ công nghệ và nền tảng công nghệ 4.0…

Đặc biệt, cần hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật để thúc đẩy thương mại điện tử.

Thứ bảy, cần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, đặc biệt phát triển thị trường các yếu tố sản xuất, bảo đảm để thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bố hiệu quả sử dụng nguồn lực; thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thứ tám, phát triển kinh tế tư nhân, gia tăng tính tự cường của nền kinh tế. Cụ thể, cần thực hiện quyết liệt các giải pháp giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp thông qua việc cắt giảm, đơn giản hóa quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, nộp thuế và bảo hiểm xã hội, nhấn mạnh đẩy lùi và ngăn chặn các hành vi làm phát sinh chi phí không chính thức; Hoàn thiện thể chế theo hướng bình đẳng giữa các thành phần về quyền tài sản, quyền kinh doanh, tiếp cận cơ hội, nguồn lực, thực thi luật pháp, đặc biệt là xử lý tranh chấp…

Thứ chín, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo bứt phá về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo nhằm tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng.

Đặc biệt, cần khẩn trương ban hành và tạo điều kiện thực hiện cơ chế thí điểm (sandbox) cho đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nghiệp; Bãi bỏ các chính sách ngăn cản hoặc làm méo mó động lực đối với nghiên cứu và phát triển, áp dụng KHCN; bổ sung, sửa đổi chính sách thuế hiện hành để khuyến khích nghiên cứu và phát triển, và thu hút nhân tài.

Thứ mười, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo đó, sẽ xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, chuyên nghiệp; Thực hiện chế độ tuyển dụng, đề bạt theo cơ chế cạnh tranh; Đẩy nhanh xây dựng Chính phủ điện tử; Cải cách phương thức quản lý, đề cao trách nhiệm cá nhân, giải trình, minh bạch để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý./.

Phương Anh
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan