Cập nhật ngày 24/05/2020 - 16:16:48

           

Sớm phê chuẩn EVFTA, EVIPA, Việt Nam thể hiện sự đối đẳng trong quan hệ với EU

- Ngoài ra, trong dịch COVID-19, EVFTA và EVIPA có tác động tích cực, giúp Việt Nam thiết lập các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị mới với EU, bù đắp những thiệt hại do việc đứt gãy các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khác.

Quốc hội hiện đang thảo luận về việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa XHCN Việt Nam, một bên là Liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu (EVIPA). Đây là 2 hiệp định quan trọng nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Dự kiến, sáng 28/5, Quốc hội sẽ bấm nút thông qua cả 2 hiệp định EVFTA và EVIPA.

EVFTA: Đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU

EVFTA gồm 17 Chương, 8 Phụ lục, 2 Nghị định thư, 2 Biên bản ghi nhớ và 4 Tuyên bố chung.

Hiệp định này điều chỉnh nhiều vấn đề, bao gồm: Thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp Nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý - thể chế.

Với mức độ cam kết đạt được, EVFTA được coi là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.

Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, Tờ trình của Chủ tịch nước về việc đề nghị Quốc hội phê chuẩn Hiệp định EVFTA chỉ rõ, bên cạnh những thuận lợi, Hiệp định có thể mang lại một số thách thức nhất định. 

Một là, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường với hàng hóa, dịch vụ cho EU, tạo ra sức ép cạnh tranh nhất định cho nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ của ta.

Tuy nhiên, theo Tờ trình, thì đây là sức ép cạnh tranh lành mạnh, có chọn lọc và theo lộ trình phù hợp. Mặt khác, do cơ cấu kinh tế của EU và Việt Nam mang tính bổ sung rất cao, không đối đầu trực tiếp nên dự kiến sức ép cạnh tranh sẽ không lớn.

Ngoài ra, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với những nhóm sản phẩm nhạy cảm, nên EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Hai là, EVFTA bao gồm những quy định, quy tắc chặt chẽ về thủ tục đầu tư, hải quan, thuận lợi hóa thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, sở hữu trí tuệ, mua sắm của Chính phủ, phát triển bền vững... để thực hiện đầy đủ các quy định này đòi hỏi cải cách hệ thống pháp lý của ta.

Tuy nhiên, việc này cũng phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hiệu quả của mua sắm công, đối mới mô hình tăng trưởng, Chính phủ cũng đã và đang triển khai hết sức chủ động, khẩn trương.

Ba là, các cam kết về lao động trong đó bao gồm việc cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp hay việc thành lập Nhóm tư vấn trong nước (DAG) để thực thi các cam kết về thương mại và phát triển bền vững với sự tham gia của đại diện người lao động, đại diện các doanh nghiệp, các nhà khoa học và các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam có thể làm gia tăng sức ép về giám sát xã hội trong quá trình thực thi Hiệp định và từ đó đặt ra những thách thức nhất định đối với Việt Nam.

Về việc phê chuẩn và thời điểm phê chuẩn EVFTA, Tờ trình cũng nêu rõ, theo quy định về hiệu lực của EVFTA, Hiệp định EVFTA sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai sau tháng mà các bên đã thông báo cho nhau về việc hoàn thành các thủ tục pháp lý tương ứng để Hiệp định có hiệu lực. Các bên cũng có thể thỏa thuận với nhau để lựa chọn một ngày khác để đưa Hiệp định vào thực thi.

Về thẩm quyền và thời điểm phê chuẩn đối với Việt Nam Hiệp định có một số nội dung trái với luật của Quốc hội, căn cứ khoản 14, Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và điểm d, khoản 1, Điều 29 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định phê chuẩn EVFTA. Chính phủ đề xuất trình Quốc hội xem xét phê chuẩn EVFTA tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV. Trên cơ sở phê chuẩn của hai bên, Việt Nam và EU sẽ thống nhất về thời điểm Hiệp định chính thức có hiệu lực với cả hai bên.

Do đó, Chủ tịch nước kiến nghị Quốc hội giao Chính phủ thống nhất với phía EU thời điểm đưa EVFTA vào thực thi vào thời điểm sớm nhất, phù hợp với quy định của Hiệp định cũng như quy định pháp luật của mỗi bên.

Đối với vấn đề Anh, Chính phủ kiến nghị Quốc hội khi phê chuẩn EVFTA thì cũng đồng ý áp dụng Hiệp định này với Anh (do Anh cũng là một bên tham gia ký kết EVFTA) cho đến hết giai đoạn chuyển đổi ngày 31/12/2020 (có thể gia hạn đến 24 tháng).

Bên cạnh đó, Chính phủ không có kiến nghị bảo lưu bất kỳ nội dung nào của Hiệp định. Đối với những cam kết đã đủ rõ, đủ chi tiết và có thể áp dụng trực tiếp theo quy định của Luật Điều ước quốc tế, Chính phủ kiến nghị áp dụng trực tiếp.

Phê chuẩn EVIPA, tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam

Hiệp định EVIPA, tách ra từ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), đã được Hội đồng Châu Âu thông qua ngày 25/6/2019 và được đại diện các Bên ký ngày 30/6/2019 tại Hà Nội. Theo Điều 4.13 quy định Hiệp định EVIPA sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai sau ngày các Bên thông báo cho nhau về việc hoàn thành thủ tục pháp lý nội bộ của mình.

Hiệp định EVIPA thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Nghị viện châu Âu và Nghị viện các nước Thành viên. Hiện nay, Nghị viện châu Âu đã phê chuẩn Hiệp định. Phân tích toàn diện cơ sở pháp lý, cũng như quan hệ chính trị, đối ngoại, Chính phủ đề xuất Quốc hội phê chuẩn Hiệp định EVIPA tại Kỳ họp thứ 9 mà không nhất thiết phải chờ toàn bộ các thành viên EU hoàn tất quá trình phê chuẩn Hiệp định.

Về các vấn đề của Hiệp định này, thực hiện ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trình bày Báo cáo thuyết minh Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là CHXHCN Việt Nam và một bên là Liên minh châu Âu và các nước thành viên Liên minh châu Âu (EVIPA) trước Quốc hội ngày 20/5/2020.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, Hiệp định chỉ có hiệu lực khi Việt Nam, EU và tất cả các nước thành viên EU hoàn tất thủ tục phê chuẩn theo pháp luật của nước mình.

Theo dự kiến, sáng 28/5, Quốc hội sẽ bấm nút thông qua cả 2 hiệp định EVFTA và EVIPA.

Ngày 12/02/2020, Nghị viện châu Âu đã phê chuẩn Hiệp định. Để Hiệp định có hiệu lực thì cần tiếp tục được nghị viện các nước thành viên EU phê chuẩn. Đến nay đã có 02/28 nước thành viên EU phê chuẩn Hiệp định, gồm Hung-ga-ri (phê chuẩn ngày 23/12/2019) và Cộng hòa Séc (phê chuẩn ngày 13/02/2020).

Lý giải vì sao Chính phủ đề xuất Quốc hội phê chuẩn Hiệp định tại Kỳ họp thứ 9, mà không nhất thiết phải chờ toàn bộ các thành viên EU hoàn tất quá trình phê chuẩn Hiệp định, Bộ trưởng Dũng đã đưa ra 3 lý do:

Một là, về cơ sở pháp lý, việc phê chuẩn Hiệp định là nghĩa vụ của Việt Nam và EU phù hợp với quy định của Hiệp định. Theo đó, mỗi Bên có toàn quyền quyết định việc thực hiện trình tự, thủ tục và thời điểm phê chuẩn Hiệp định theo pháp luật của mình mà không phụ thuộc vào việc thực hiện các thủ tục tương ứng của Bên kia.

“Việc Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp định trong khi các thành viên EU chưa hoàn tất thủ tục này cũng không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của Việt Nam bởi vì các quyền, nghĩa vụ của mỗi Bên theo quy định của Hiệp định chỉ được thực hiện sau khi tất cả các Bên thông báo cho nhau về việc hoàn tất thủ tục phê chuẩn nội bộ của mình để Hiệp định chính thức có hiệu lực”, Bộ trưởng Dũng chỉ rõ.

Hai là, về chính trị, đối ngoại, hiện nay, Nghị viện châu Âu (với tư cách là một khối thống nhất) đã phê chuẩn đồng thời cả Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA. Do vậy, việc Quốc hội Việt Nam thực hiện thẩm quyền phê chuẩn tương tự là cần thiết, thể hiện sự đối đẳng trong quan hệ Việt Nam - EU.

“Điều đó cũng góp phần khẳng định Việt Nam là đối tác có thiện chí và trách nhiệm cao trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình theo đúng cam kết, đồng thời thúc đẩy các nước thành viên EU hoàn tất thủ tục phê chuẩn của nước mình”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho hay.

Ba là, đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, người đứng đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư chi rõ, cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp EU không chỉ kỳ vọng vào những cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư theo EVFTA mà còn mong đợi EVIPA sẽ tạo dựng một khung pháp lý đầy đủ và có hiệu quả hơn nữa cho việc bảo hộ hoạt động đầu tư của họ tại Việt Nam.

“Do vậy, việc Quốc hội phê chuẩn đồng thời Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA sẽ góp phần củng cố niềm tin của các doanh nghiệp vào quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc tiếp tục đẩy mạnh tiến trình đổi mới, hội nhập, cải thiện và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, kinh doanh”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định.

Về tác động của Hiệp định đối với Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, về chính trị, an ninh quốc gia, Hiệp định đã quy định một số nguyên tắc nhằm bảo đảm để Việt Nam phát triển quan hệ với EU trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đoàn kết dân tộc phù hợp với những mục tiêu đã được các Bên thỏa thuận theo Hiệp định hợp tác và đối tác toàn diện Việt Nam - EU.

Về đối ngoại, việc thực thi Hiệp định này sẽ góp phần tăng cường sự gắn kết về kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và EU, đồng thời củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa hai Bên.

Về chính sách kinh tế vĩ mô, EVFTA và EVIPA này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thông qua tác động tới đầu tư, thương mại, cải thiện năng suất và cải thiện môi trường thể chế.

Cụ thể, so với trường hợp không tham gia các Hiệp định này, GDP của Việt Nam tăng thêm lần lượt trong ngắn hạn, trung hạn (giai đoạn 2022-2024) và dài hạn (giai đoạn 2025-2030) từ 0,28% đến 0,63%/năm; 1,24% đến 2,02%/năm và từ 3,53% đến 4,37%/năm. Về việc làm, mức tăng tương ứng lần lượt là 26.000 đến 66.000; 56.000 đến 81.000 và từ 34.000 đến 43.000.

Đặc biệt, theo Bộ trưởng, trong khi dịch COVID-19 có tác động làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu, thì EVFTA và EVIPA càng có tác động tích cực, bởi đây là thời điểm quan trọng để Việt Nam thiết lập các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị mới với EU, bù đắp những thiệt hại do việc đứt gãy các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khác.

EVIPA cũng sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút dòng vốn đầu tư đang chuyển hướng, đồng thời hạn chế việc suy giảm nguồn vốn FDI theo xu hướng chung của thế giới...

Đối với hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh và thu hút FDI, việc thực hiện cam kết theo Hiệp định này sẽ là động lực thúc đẩy Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, bình đẳng, an toàn, minh bạch và thân thiện hơn đối với nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.

Cùng với những cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư theo Hiệp định EVFTA, việc thực thi Hiệp định này sẽ tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam đẩy mạnh thu hút đầu tư trong một số lĩnh vực mà EU có tiềm năng và thế mạnh, đặc biệt là trong một số ngành dịch vụ chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối, công nghiệp chế biến, chế tạo sử dụng công nghệ cao, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Bên cạnh đó, đầu tư từ EU trong các lĩnh vực này có thể hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế trong nước. Thông qua liên kết sản xuất với doanh nghiệp có vốn đầu tư của EU, doanh nghiệp trong nước sẽ có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của EU và toàn cầu, được chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý.

Đối với cơ chế giải quyết tranh chấp và thi hành pháp luật, các quy định của Hiệp định được xây dựng chi tiết, có tiêu chí rõ ràng, ghi nhận quyền ban hành và thực hiện chính sách của mỗi Bên. Điều đó sẽ góp phần bảo đảm để các quy định của Hiệp định được hiểu và áp dụng một cách nhất quán, giúp hạn chế tối đa khả năng tranh chấp xảy ra.

Mặt khác, việc thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp thường trực theo Hiệp định để giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư của một Bên được đánh giá là bước tiến mới so với cơ chế trọng tài giải quyết tranh chấp theo từng vụ việc mà Việt Nam đã áp dụng theo 66 Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư đã ký kết trong gần 30 năm qua.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc thực thi Hiệp định này cũng đặt ra một số thách thức đối với Việt Nam. Thực tế cho thấy, thể chế, chính sách, cơ chế quản lý của Việt Nam còn một số mặt hạn chế. Hệ thống kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế nói chung và nhu cầu các nhà đầu tư EU nói riêng.

Việc thực hiện cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định cũng đặt ra những thách thức lớn hơn trong việc xây dựng và thực thi pháp luật, phòng ngừa và giải quyết có hiệu quả tranh chấp, vướng mắc với nhà đầu tư.

Những thách thức đó đòi hỏi Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp phải thực hiện những giải pháp đồng bộ, toàn diện để có thể phát huy tối đa những lợi ích từ Hiệp định này và Hiệp định EVFTA.

Về cơ chế bảo đảm thực thi Hiệp định, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng báo cáo rằng, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở cấp Trung ương để kiến nghị sửa đổi, bổ sung văn bản cần thiết cho việc triển khai thi hành Hiệp định.

"Kết quả rà soát cho thấy, trừ cơ chế công nhận và cho thi hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam, toàn bộ nội dung của Hiệp định đã đủ rõ và chi tiết, phù hợp với pháp luật Việt Nam. Do vậy, việc thực hiện các cam kết của Việt Nam theo Hiệp định không đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành của pháp luật", Bộ trưởng báo cáo làm rõ.

Trên cơ sở đó, Chính phủ kiến nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định, trong đó cho phép áp dụng trực tiếp toàn bộ nội dung của Hiệp định, trừ cơ chế công nhận và cho thi hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư. Đồng thời, ban hành một Nghị quyết riêng về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp theo Hiệp định.

Căn cứ kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 44, Chính phủ đã chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao xây dựng, trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư theo Hiệp định. Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết này theo trình tự, thủ tục rút gọn tại Kỳ họp thứ 9./.

Linh Thanh
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan