Cập nhật ngày 27/08/2020 - 17:57:07

           

Xây dựng Kế hoạch phát triển 2021-205: Cần tầm nhìn táo bạo, để có những giải pháp đột phá!

- Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, các địa phương phải định vị lại hiện đang ở đâu, có gì, sẽ phát triển theo hướng nào, đâu là trọng tâm, trụ cột, nguồn lực? Với một tầm nhìn mới, chúng ta hoạch định tương lai của mình.

Phát biểu khai mạc Hội nghị trực tuyến Xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư công năm 2021, giai đoạn 2021-2025 vùng miền Trung và Tây Nguyên, ngày 26/8/2020, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025 và năm 2021 của các địa phương cần đảm bảo sự nhất quán, kết nối, kế thừa và phát triển các thành tựu đạt được của giai đoạn 2016 - 2020, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và mang lại lợi ích cho người dân.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng phát biểu khai mạc Hội nghị- Ảnh: Minh Trang

2016-2020: Kinh tế vùng miền Trung và Tây Nguyên chuyển dịch theo xu hướng tích cực

Dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê và các địa phương, ông Trần Duy Đông, Vụ trưởng Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tốc độ tăng trưởng bình quân của  vùng miền Trung đạt bình quân 7%/năm, trong đó số liệu năm 2018 tăng trưởng của Vùng đạt 9,31%, năm 2019 tăng 8,3%; vùng Tây Nguyên bình quân đạt 6,5%/năm, trong đó các năm 2017, 2018 tăng trưởng cao đạt 7,2-7,3%.

Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, TP. Đà Nẵng, Quảng Nam bình quân 5 năm đạt khá cao, một số tỉnh tăng thấp trước đây nay đã có mức tăng trưởng khá, như: Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Lâm Đồng.

“Chuyển dịch trong nội bộ vùng miền Trung và Tây Nguyên theo xu hướng tích cực”, ông Đông nêu nhận định.

Vùng miền Trung , công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng 82% kinh tế vùng, các khu kinh tế ven biển đã có sức lan tỏa; đóng góp quan trọng tăng trưởng như: dự án lọc dầu Nghi Sơn, Dung Quất, dự án thép Formosa, dự án ô tô Trường Hải, điện mặt trời Ninh Thuận, Bình Thuận, ...; đã hình thành vùng kinh tế vùng Bắc Trung Bộ với ngành công nghiệp hóa dầu, luyện kim, thép, điện, vật liệu xây dựng là chủ lực; vùng Nam Trung Bộ du lịch, dịch vụ, công nghiệp hóa dầu, thép, lắp ráp ô tô, cơ khí, vận tải biển chiếm tỷ trọng lớn.

Vùng Tây Nguyên chuyển dịch chậm hơn, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng 62% kinh tế vùng, các ngành du lịch sinh thái, thủy điện và công nghiệp chế biến nông, lâm sản tiếp tục phát triển khá.

Môi trường đầu tư kinh doanh tại miền Trung tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số hiệu quả quản lý và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) tiếp tục được cải thiện trên bảng xếp hạng cả nước. Miền Trung luôn trong nhóm 10 tỉnh đứng thứ hạng cao nhất về Chỉ số PCI và PAPI.

Kết cấu hạ tầng quan trọng, liên vùng được quan tâm, tập trung đầu tư bằng huy động nhiều nguồn vốn và các hình thức huy động vốn đầu tư PPP, sử dụng các nguồn NSNN, vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA, vay tín dụng đầu tư...

 Hạ tầng đô thị ven biển được nâng cấp, xây dựng mở rộng và đang tiếp tục phát triển mạnh. Khu vực ven biển của Vùng gồm 01 đô thị loại I trực thuộc Trung ương (TP Đà Nẵng) và hiện đã có 05 đô thị loại I trực thuộc tỉnh (Thanh Hóa, Vinh, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang). Các công trình nâng cấp sân bay, đường giao thông, hồ chứa vùng Tây Nguyên được quan tâm đầu tư. Hạ tầng an sinh xã hội cả 2 vùng đều đã được cải thiện. 

Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2019 cả hai vùng đều đạt và vượt dự toán các năm, tốc độ tăng thu nội địa bình quân đạt 14,2%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước là 9,66%/năm;

Các địa phương tại 2 vùng đã rất chú trọng đến các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển khoa học công nghệ, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo và xóa đói giảm nghèo; tỷ lệ hộ nghèo vùng miền Trung giảm bình quân 2%/năm, các huyện nghèo 30a, xã Chương trình 135 giảm bình quân 4%/năm, vùng Tây Nguyên giảm bình quân .... Chương trình xây dựng nông thôn mới đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đề ra. C

Các chỉ tiêu môi trường như tỷ lệ xử lý chất thải rắn công nghiệp, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị, chất thải rắn y tế, cung cấp nước sạch và sử dụng nước hợp vệ sinh tại nông thôn cơ bản đều đạt mục tiêu đề ra.

Các đầu cầu địa phương tại Hội nghị- Ảnh: Minh Trang

Vẫn còn những hạn chế thách thức trong quá trình phát triển

Bên cạnh những thành quả đạt được, theo đánh giá của đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vùng miền Trung và Tây Nguyên đang phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức cần được nghiên cứu, thảo luận thấu đáo, nhất là trong bối cảnh “bình thường mới” để đề ra phương hướng giải quyết, nếu không sẽ trở thành những điểm nghẽn, cản trở sự phát triển của Vùng trong thời gian tới. Đó là:

Một là, cả 2 vùng đều có nhiều tiềm năng, cơ hội để phát triển nhưng động lực tăng trưởng hiện nay còn yếu, nhất là vùng miền Trung vẫn chưa khai thác được thế mạnh về hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, cảng biển, sân bay sẵn có. Tổng GRDP của cả 2 vùng chỉ chiếm khoảng 17-18% cả nước (diện tích chiếm 45,3%, dân số chiếm 27% cả nước), GRDP bình quân đầu người vẫn thấp hơn khá nhiều so với bình quân chung cả nước.  

Hai là, cả 2 vùng miền Trung và Tây Nguyên đều có nguy cơ thiếu nước ngọt và khô hạn ngày càng rõ rệt ảnh hưởng tới phát triển bền vững; sản xuất nông nghiệp vùng miền Trung và Tây Nguyên hiệu quả còn chưa cao; nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ chưa được chú trọng nên phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng.

Ba là, công tác thu hút các nguồn vốn đầu tư còn chưa đạt yêu cầu. Số lượng và chất lượng dự án đầu tư nguồn vốn FDI vào vùng còn thấp, chưa thu hút được nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao, các dự án đã thu hút được chủ yếu vừa và nhỏ; tỷ lệ lấp đầy các khu kinh tế, khu công nghiệp còn thấp.

Bốn là, liên kết vùng, liên kết ngành và lĩnh vực còn yếu, cực tăng trưởng và các hành lang kinh tế thiếu sự gắn kết, vẫn còn tình trạng mạnh ai nấy làm, thậm chí cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau, dẫn tới không thể liên kết được;

Năm là, chất lượng nguồn nhân lực của 2 vùng còn thấp, công tác đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tế ngành nghề sử dụng lao động.

Sáu là, tỷ lệ hộ nghèo của các địa phương trong Vùng còn cao; trình độ phát triển giữa các vùng trong một địa phương và giữa các địa phương còn không đồng đều. 

Thay mặt lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thứ trưởng Trần Quốc Phương kết luận Hội nghị- Ảnh: Minh Trang

Những điều cần làm ngay trong xây dựng kế hoạch 2021 và kế hoạch 2021-2025

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Trần Quốc Phương lưu ý các địa phương căn cứ Chỉ thị số 18/CT-TTg, số 31/CT-TTg, ngày 31/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư số 2889/BKHĐT-TH ngày 16/6/2020, số 4201/BKHĐT-TH ngày 30/6/2020, đề nghị các địa phương sớm có văn bản chính thức gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Về cơ bản các địa phương đã triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và Kế hoạch 2021. Tuy nhiên, báo cáo chính thức kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và Kế hoạch 2021 vùng miền Trung đến nay mới có 12/14 địa phương gửi bộ (2 địa phương: Hà Tĩnh, Quảng Nam chưa gửi kế hoạch kinh tế - xã hội 2021-2025 và TP. Đà Nẵng chưa gửi kế hoạch năm 2021); Vùng Tây Nguyên mới có 2/5 địa phương có báo cáo chính thức (các tỉnh: Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng chưa có báo cáo); Về kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 và 2021: vùng miền Trung có 12/14 địa phương đã gửi Bộ (2 địa phương: Hà Tĩnh và Quảng Ngãi chưa gửi bản chính thức); Vùng Tây Nguyên mới có 2/5 địa phương chưa có báo cáo chính thức (tỉnh: Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng chưa có báo cáo KH 2021).

Thứ trưởng cũng lưu ý rằng, tăng trưởng kinh tế năm 2020 chịu tác động mạnh của đại dịch Covid-19 và ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 của cả nước và cũng như các địa phương.

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của việc thiếu nguồn nguyên liệu, vật liệu, linh kiện nhập khẩu, khó khăn về thị trường tiêu thụ... do ảnh hưởng của dịch bệnh, nên cơ bản các địa phương đều không đạt mục tiêu đề ra.

“Do đó, đề nghị các địa phương rà soát đánh giá cụ thể tình hình kinh tế - xã hội năm 2020, làm cơ sở xây dựng Kế hoạch 2021-2025 sát thực tế”, Thứ trưởng đề nghị.

Theo Thứ trưởng, các mục tiêu, định hướng và giải pháp, chính sách phải bảo đảm tính khả thi, gắn kết với khả năng cân đối, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; cần phân tích, đánh giá, lựa chọn và sắp xếp thứ tự các mục tiêu ưu tiên trong kế hoạch; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu phát triển bền vững theo Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, kế hoạch được xây dựng phải phù hợp với khả năng thực hiện của các ngành, các cấp, các địa phương.

Việc xây dựng giải pháp tổ chức thực hiện bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, các ngành, các cấp.

Kế hoạch đầu tư công 2021-2025: Một số địa phương xây dựng nhu cầu đầu tư công quá cao

Vùng miền Trung là 713,9 nghìn tỷ đồng, cao gấp 3,1 lần số giao của giai đoạn 2016-2020, trong đó nhu cầu từ nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cao gấp 3,5 lần. Nhu cầu vốn đầu tư công năm 2021 là 138,7 nghìn tỷ đồng, bằng 1,9 lần so với kế hoạch năm 2020; trong đó tăng cao nhất là nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ theo ngành lĩnh vực gấp gần 4 lần.

Vùng Tây Nguyên là 190,6 nghìn tỷ đồng, gấp 3,1 lần so với giai đoạn 2016-2020, trong đó nhu cầu từ nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cao gấp 4,6 lần. Nhu cầu vốn đầu tư công năm 2021 là 12.440 tỷ đồng, gấp 1,64 lần so với Kế hoạch 2020.

Thứ trưởng cho rằng, một số địa phương xây dựng nhu cầu đầu tư công quá cao như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, đề nghị tiếp tục rà soát lại nhu cầu.

Trong triển khai thực hiện Kế hoạch đầu tư đầu tư công giai đoạn 2021-2025 và năm 2021, Thứ trưởng đề nghị các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế nguồn lực của nhà nước, số vốn năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ giao để xây dựng kế hoạch năm 2021 và giai đoạn 2021-2025 phù hợp.

“Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ sớm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về tiêu chí, nguyên tắc bố trí vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2021-2025 để làm cơ sở cho các Bộ, ngành, địa phương phân bổ nguồn vốn đầu tư công năm 2021 và giai đoạn 2021-2025”, Thứ trưởng Phương cho biết.

Các địa phương phải xác định rõ mục tiêu, tránh dàn trải, bố trí theo thứ tự ưu tiên từ kế hoạch đầu tư công năm 2021 phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2021 - 2025, khả năng cân đối các nguồn vốn đầu tư khả năng thực hiện, tiến độ giải ngân của từng dự án trong năm 2021. Rà soát nhu cầu nguồn vốn NSNN năm 2021 và giai đoạn 2021-2025 theo 13 ngành, lĩnh vực đã được quy định tại Nghị quyết số 973/2020/UBTVQH14, ngày 8/7/2020 đảo đảm công khai, minh bạch, công bằng trong việc phân bổ vốn kế hoạch đầu tư công, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính và tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 Kế hoạch vốn đầu tư 2021-2025 được xây dựng gắn với các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, định hướng ưu tiên đầu tư theo ngành, lĩnh vực, chương trình trọng tâm và các khâu đột phá.

“Đề nghị các địa phương phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan kịp thời đề xuất giải quyết khó khăn, vướng mắc, không để trình trạng chưa hiểu, chưa rõ nên “chưa thực hiện”’, Thứ trưởng nhấn mạnh./.

Phương Anh
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan