Cập nhật ngày 07/10/2014 - 03:59:48

           

Để chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đi vào cuộc sống

- Thực tiễn cho thấy còn nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người dân.

Việc ra đời Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp lý liên quan đã góp phần tháo gỡ những khó khăn trong bồi thường, tái định cư khi thu hồi đất. Hệ thống pháp luật đất đai hiện hành cũng phù hợp với chế định về đất đai được quy định trong Hiến pháp (sửa đổi). Tuy nhiên, để hệ thống pháp luật đất đai đi vào cuộc sống, thì cần sự nỗ lực từ nhiều phía.

Đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong công tác bồi thường

Trong Luật Đất đai năm 2013, nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi bị Nhà nước thu hồi được quy định thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88).

Các điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất đã quy định khá cụ thể. Luật đã bổ sung bồi thường đối với trường hợp sử dụng đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất, vì những đối tượng này có cùng nghĩa vụ tài chính với nhau. Ngoài ra, Luật cũng bổ sung bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất, mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có giấy chứng nhận, hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất, quyền sở hữu (QSH) nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai, mà chưa được cấp.

Trước đây đối với các trường hợp đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở từ thiện, không phải là đất do Nhà nước giao, mà có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp, hoặc khai hoang trước ngày 01/7/2004, thì không được bồi thường, hỗ trợ. Điều này đã gây nhiều vướng mắc, khiếu kiện, cũng như không tạo được sự đồng thuận trong quá trình thực hiện.

Cụ thể hóa thêm nữa, Nghị định 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã quy định bồi thường đối với các trường hợp cụ thể, như: bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp vượt hạn mức do nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; bồi thường về đất khi thu hồi đất ở; bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi thu hồi đất… Như vậy, điểm mới của Nghị định này là không dành một điều riêng để quy định về những trường hợp không được bồi thường như Nghị định 197/2004/NĐ-CP, ngày 03/12/2004, mà là liệt kê những trường hợp được bồi thường đối với từng loại đất cụ thể.

 Việc bồi thường đối với tài sản gắn liền với đất, cây trồng, vật nuôi là thủy sản bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất cũng được Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể việc bồi thường tại các Điều 88, Điều 89 và Điều 90. Khi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất nếu có thiệt hại, thì được bồi thường.

Phương thức bồi thường có nhiều đổi mới so với trước đây. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường, thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm ra quyết định thu hồi đất. Đặc biệt, đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với QSD đất tại Việt Nam, mà có giấy chứng nhận QSD đất, giấy chứng nhận QSH nhà ở và QSD đất ở, giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hoặc có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định mà chưa được cấp, khi Nhà nước thu hồi đất, thì được bồi thường, như sau:

(1) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi, thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; Trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở, thì Nhà nước bồi thường bằng tiền.

(2) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi, thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

 (3) Trường hợp phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác, thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

Ngoài việc được bồi thường về đất, còn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất đối với các loại đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp khác (Điều 77, Điều 78, Điều 80 và Điều 81). Ngoài ra, đối với các loại đất được Nhà nước giao, cho thuê không thu tiền hoặc được miễn thu tiền giao đất, tiền thuê đất; đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất.

Cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại được quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm đất ở, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất. Đặc biệt, việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ vào loại đất, đối tượng sử dụng mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với loại đất đó. Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn cũng đã bổ sung các trường hợp bồi thường đối với các dự án đặc biệt, như: đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Sự tham gia của người dân trong quá trình thu hồi đất và quyền của hộ gia đình được mở rộng. Luật Đất đai năm 2013 đã quy định theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong việc đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất và xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận. Đồng thời, việc bổ sung quy định xử lý đối với trường hợp chậm chi trả bồi thường do lỗi của cơ quan nhà nước và do lỗi của người có đất thu hồi gây ra để đảm bảo trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thực thi công vụ, cũng như tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân.

 Cơ chế tài chính khi thu hồi đất có nhiều điểm mới. Điều đó thể hiện ở giá đất bồi thường khi thu hồi đất sẽ không áp dụng theo bảng giá đất như trước đây, mà áp dụng theo giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Đây là điểm sáng trong việc hoàn thiện cơ chế tài chính khi thu hồi đất, đảm bảo quyền lợi cho người dân có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, cũng cần sớm có tổ chức định giá đất độc lập, tránh việc trên thực tiễn UBND cấp tỉnh đồng thời vừa ra quyết định thu hồi, vừa xác định giá đất.

Bổ sung các nguyên tắc hỗ trợ khi bị thu hồi

So với trước đây, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định rõ về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định, còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; việc hỗ trợ phải đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

Luật cũng đã quy định cụ thể hơn về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân.

Việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị thu hồi đất (Điều 19, Nghị định 47) được quy định cụ thể, trường hợp bị thu hồi 30%-70% diện tích đất nông nghiệp, thì được hỗ trợ trong 6 tháng (không di chuyển chỗ ở), 12 tháng (có di chuyển chỗ ở) và 24 tháng (di chuyển đến nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn). Trường hợp bị thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp, thì thời gian được hỗ trợ lần lượt là 12, 24 và 36 tháng. Mức hỗ trợ tương đương 30kg gạo/người/tháng theo thời giá tại thời điểm hỗ trợ. Thêm nữa, người bị thu hồi đất cũng sẽ được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và kiếm việc làm mới với mức hỗ trợ bằng tiền không quá 5 lần giá đất nông nghiệp, nhưng diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất tại địa phương.

Quy đinh chi tiết các nguyên tắc về tái định cư

Tái định cư trước khi thu hồi đất. Đây là một điểm mới thể hiện tinh thần đổi mới so với trước đây. Theo đó, UBND cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và tổ chức thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất, tránh tình trạng người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở nhiều năm mà vẫn chưa bố trí vào khu tái định cư.

Hạ tầng khu tái định cư tập trung phải được đảm bảo. Luật cũng quy định cụ thể về khu tái định cư tập trung phải xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở, hoặc cơ sở vật chất hạ tầng của khu tái định cư.

Tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất. Luật hiện hành cũng bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất ở, mà phải di chuyển chỗ ở. Cụ thể người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.

Để chính sách đất đai đi vào cuộc sống

Thực tiễn cho thấy còn nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người dân. Do đó, việc vận dụng chính sách pháp luật, đặc biệt là hệ thống pháp luật về đất đai mới nhằm kế thừa các quy định phù hợp với thực tiễn là rất cần thiết, ở cả cấp Trung ương và địa phương.

Ở cấp Trung ương, cùng với việc ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 22/1/2014 về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013, Chính phủ đã ban hành 05 nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013 và được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành cùng ngày 15/05/2014. Trong đó, có 03 nghị định do Bộ Tài nguyên và Môi trường trình, là: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Còn 2 nghị định khác do Bộ Tài chính trình, gồm Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định thu tiền sử dụng đất và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP quy định thu tiền thuê đất. Tất cả các nghị định này đều có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành 6 thông tư hướng dẫn. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với bộ, ngành có liên quan rà soát hệ thống thông tư, thông tư liên tịch đã ban hành từ năm 2013 trở về trước để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Đất đai và các nghị định.

Điều đó cho thấy, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến đất đai đang phải nỗ lực “chạy đua với thời gian” để hoàn thiện khung khổ pháp lý trong lĩnh vực đất đai.

Điều quan trọng nhất là các văn bản quy định chi tiết thi hành phải bảo đảm tính thống nhất cao, chi tiết, đầy đủ, dễ hiểu và chặt chẽ để nhân dân hiểu rõ quy định của luật, hiểu rõ quyền và lợi ích của mình, tránh khiếu kiện sai; cán bộ, công chức cũng áp dụng luật chính xác hơn, tránh làm nảy sinh khiếu kiện của công dân trong quá trình thực thi pháp luật.

Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là cần thiết để phát hiện và xử lý nghiêm, truy cứu trách nhiệm những trường hợp vi phạm luật. Nếu triệt để thực hiện tinh thần thượng tôn pháp luật sẽ hạn chế được nhiều hơn những trường hợp bất chấp lý lẽ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của công dân để tư lợi cá nhân và cũng hạn chế được những trường hợp bất chấp lý lẽ khiếu kiện.

Đồng thời, việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai cũng cần được quan tâm sao cho thật hiệu quả và gần dân nhất.

Ở cấp địa phương: UBND tỉnh, thành phố theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 cần kiện toàn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý đất đai; chấn chỉnh và hoàn thiện công tác quản lý đất đai, trong đó trọng tâm là tiếp tục công bố công khai và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố đã được phê duyệt và hoàn thành việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Đồng thời, cấp huyện tiếp tục rà soát quy trình thủ tục và chấn chỉnh công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai…/.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2003). Luật Đất đai, số 13/2003/QH11, ngày 26/10/2003
2. Quốc hội (2013). Luật Đất đai, số 45/2013/QH13, 29/11/2013
3. Chính phủ (2014). Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
4. Chính phủ (2014). Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 quy định thu tiền sử dụng đất
5. Chính phủ (2014). Nghị định số 46/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014  quy định thu tiền thuê đất
6. Chính phủ (2014). Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014  quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

ThS. Trần Đức Phương
Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 18/2014

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan