Cập nhật ngày 25/07/2014 - 23:10:23

           

Mục tiêu tăng trưởng năm 2014 và biến số "Biển Đông"

- Ngày 2/5/2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan nước sâu Hải Dương - 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Từ thời điểm đó đến nay, hành động của Trung Quốc ngày càng ngang ngược, khiến quan hệ chính trị - kinh tế giữa hai nước trở nên căng thẳng. Đây đang là thách thức lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2014 của Việt Nam.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng dự báo cả năm chỉ là 5,4%-5,5%, và 5,6%-5,8% cho 6 tháng cuối năm 2014, nhưng để hiện thực hóa chúng lại không hề đơn giản.

Bên cạnh những nguyên nhân xuất phát từ nội tại nền kinh tế, thì một "biến số" mới xuất hiện từ tháng 5/2014 đến nay là yếu tố địa, chính trị - mối quan hệ không tích cực của Việt Nam và Trung Quốc từ Biển Đông ngày càng trở nên sâu sắc hơn đang ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế, ít nhất là trong 6 tháng cuối năm 2014 và sang cả năm 2015. Nếu "biến số" này diễn biến theo tình huống xấu, thì nguy cơ mục tiêu tăng trưởng trên 5% cũng trở nên… xa vời.

Sự kiện Trung Quốc ngang ngược hạ đặt đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, vi phạm chủ quyền nước ta trên Biển Đông (chính thức bắt đầu từ tháng 5/2014 và những diễn biến mới đây có mức độ trầm trọng hơn) trở thành một thách thức lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2014 của Việt Nam. Cụ thể:

 Về hoạt động đầu tư với Trung Quốc:

Kể từ năm 1991 (thời điểm bình thường hóa quan hệ Việt - Trung), số lượng và quy mô vốn đầu tư trục tiếp của Trung Quốc sang Việt Nam có sự gia tăng đáng kể.  

Nếu như trong 9 năm kể từ khi bình thường hóa (tháng 11/1991 đến tháng 12/1999), Trung Quốc mới có 76 dự án, với tổng số vốn đầu tư theo giấy phép là 120 triệu USD, thì đến 25/6/2014 tổng vốn đầu tư đăng ký đã lên tới xấp xỉ 7 tỷ USD với khoảng 1.000 dự án.

Tuy nhiên, các dự án FDI từ Trung Quốc sang Việt Nam phần lớn là quy mô nhỏ. Vốn đầu tư bình quân 1 dự án chỉ đạt 7,16 triệu USD, thấp nhất trong số các nước đầu tư trực tiếp sang Việt Nam, chỉ bằng 1/2 quy mô bình quân 1 dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, và chỉ bằng 1/3 quy mô dự án đầu tư của 1 số nước lớn. Có khoảng 50% dự án đầu tư của Trung Quốc có quy mô dưới 1 triệu USD, có nhiều dự án chỉ trên dưới 10.000 USD.

Quy mô đầu tư nhỏ đã kéo theo tình trạng hầu hết các dự án đầu tư của Trung Quốc có công nghệ thấp, chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phổ thông, có mức độ ô nhiễm môi trường cao, tiêu tốn nhiều nhiên liệu.

Trong khoảng thời gian 2 năm 2012 và 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 các dự án FDI của Trung Quốc vào Việt Nam tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong nước (chiếm trên 70% tổng dự án và xấp xỉ 60% tổng vốn đầu tư).

Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc trong quá trình đầu tư tại Việt Nam đã không giữ chữ tín, ý thức thương hiệu, dịch vụ hậu mãi kém, nên đã ảnh hưởng đến hình ảnh của nhà đầu tư Trung Quốc ở Việt Nam. Doanh nghiệp Trung Quốc khó tìm được đối tác hợp tác lý tưởng ở Việt Nam, khó khăn trong tạo niềm tin với chính quyền và doanh nghiệp địa phương, khả năng hợp tác của các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ở Việt Nam kém.

 Những đánh giá trên đây cho thấy, đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc sang Việt Nam có mức độ ảnh hưởng không lớn, chủ yếu giải quyết bài toán tận dụng lao động và sản xuất các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng thông thường.

Thế nhưng, ở một góc độ khác, có thể thấy, dòng vốn này mang nhiều điều không mong muốn cho phát triển kinh tế Việt Nam, như: khai thác tài nguyên, lao động, gây ô nhiễm môi trường cao, trình độ công nghệ rất thấp...

Vì vậy, nếu trong thời gian tới, dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam giảm đi, do ảnh hưởng của yếu tố địa, chính trị không thuận lợi, thì cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều lắm đến phát triển kinh tế Việt Nam.

Tuy vậy, Trung Quốc hiện là nhà thầu lớn nhất của Việt Nam ở lĩnh vực năng lượng, khoáng sản. Các doanh nghiệp Trung Quốc đã trúng thầu EPC (tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành; hay nói cách khác là thực hiện dự án theo phương thức chìa khoá trao tay) phần lớn các công trình năng lượng, khai khoáng, luyện kim ở Việt Nam.

Hiện có đến 90% các dự án tổng thầu EPC tại Việt Nam rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc, trong đó có tới 30 dự án trọng điểm quốc gia. Bên cạnh lo lắng về chất lượng, tiến độ gây những hệ lụy về mặt kinh tế, việc các nhà thầu này thường sử dụng nhiều lao động Trung Quốc còn có thể gây nên các vấn đề về xã hội và an ninh quốc gia.

Vì thế, mối nguy lớn nhất từ thực tế EPC hiện nay là sự mất an toàn đối với an ninh năng lượng của Việt Nam do nhà thầu Trung Quốc có thể ngừng thi công. Giải pháp chuẩn bị các phương án chủ động ứng phó với tình huống xấu cũng cần được tính toán kỹ lưỡng.

Về xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc:

- Xét về mặt quy mô: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung quốc tăng rất mạnh vào những năm 2010-2011 (bình quân tới xấp xỉ 40%/năm). Song, từ năm 2012 đến nay, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm mạnh.

 Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt khoảng 5,4 tỷ USD, xấp xỉ 9% tổng kim ngạch xuất khẩu (đạt 58,78 tỷ USD). Trong khi đó, các thị trường lớn còn lại đều có tỷ trọng chiếm trên 15% (trừ Nhật Bản đạt 12%, nhưng có xu hướng gia tăng từ năm 2010 đến nay).

  - Xét về cơ cấu xuất khẩu: Nhóm hàng nông - lâm - thủy sản, chiếm tỷ trọng 31,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc và chiếm tỷ trọng 20,9%. Nhóm khoáng sản và hàng hóa trung gian (như sợi, da, nguyên liệu giấy…) chiếm tỷ trọng 32,5%, còn lại là nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo.

Trong kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến chế tạo, thì phần lớn (trên 75%) là các hàng hóa gia công xuất khẩu, giá trị gia tăng nhận được từ xuất khẩu hàng hóa này rất thấp.

Như vậy, nếu xét về quy mô và tính chất xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc có thể thấy, mức độ ảnh hưởng (theo khía cạnh tích cực) cũng không lớn (kể cả về mặt số lượng). Riêng về mặt cơ cấu xuất khẩu, các mặt hàng xuất khẩu là nông - lâm - thủy sản đều là các hàng hóa hiện nay trên thị trường quốc tế, cầu chưa có xu hướng giảm.

Ngoài thị trường Trung Quốc, khả năng phát triển thêm thị trường xuất khẩu loại hàng hóa này sang các thị trường khác khá lớn nếu chú trọng thay đổi chất lượng sản phẩm.

Mặt hàng xuất khẩu là khoáng sản (dầu thô, than đá), hay các sản phẩm trung gian, như: nguyên liệu giấy, sợi, da, đều là những sản phẩm hiện tại Việt Nam không khuyến khích xuất khẩu nhằm phục vụ cho chiến lược nội địa hóa và phát triển sản xuất trong nước.

Các hàng hóa gia công xuất khẩu phần lớn nằm trong các doanh nghiệp FDI của Trung Quốc ở Việt Nam, vì thế các khoản lợi (giá trị gia tăng), mà Việt Nam nhận được rất nhỏ.

Như vậy, mặc dù có khó khăn trong quan hệ thương mại do tình trạng địa chính trị không thuận lợi, nhưng mức độ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam không lớn. Nhìn từ góc độ tích cực, thì đây lại là cơ hội giúp Việt Nam tái cấu trúc thị trường và mặt hàng xuất khẩu theo hướng có lợi.

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, nếu tình hình Biển Đông có ảnh hưởng xấu đến thương mại xuất khẩu hàng hóa, thì người nông dân trước mắt sẽ gặp phải nhiều khó khăn vì mặt hàng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc đang có tỷ trọng cao nhất (trên 30%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Do đó, Chính phủ  cần có chính sách định hướng và hỗ trợ nông dân trong quá trình chuyển hướng đối tác xuất khẩu nông sản trong thời gian tới.

 Về nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam:

Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam và đang có xu hướng gia tăng rõ rệt từ năm 2010. Từ năm 2010 đến nay, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc luôn chiếm khoảng 25%-28% tổng kim ngạch nhập khẩu, cao nhất và cao hơn hẳn các nước và thị trường nhập khẩu lớn khác vào Việt Nam (gấp 2,5 lần Nhật Bản, gấp gần 2 lần của Hàn Quốc, cao hơn 20% so với thị trường ASEAN).

Cán cân thương mại của Việt Nam đối với thị trường này vẫn trong xu hướng thâm hụt lớn do sự chênh lệch về tốc độ tăng nhập khẩu ngày càng lớn. Cụ thể như năm 2013, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 28,4% trong khi xuất khẩu chỉ tăng 7,0% nên mức nhập siêu đối với thị trường này đã lên tới 23,8 tỷ USD, tăng mạnh so với năm 2012 (khoảng 44,5%).

Xét về cơ cấu nhập khẩu trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc, thì: 60% là hàng hóa trung gian, 20% là máy móc thiết bị và 20% còn lại là hàng tiêu dùng. Các hàng hóa trung gian nhập khẩu không phải chỉ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI của Trung Quốc, mà còn được sử dụng nhiều trong các doanh nghiệp của Việt Nam.

Bên cạnh đó, hàng tiêu dùng Trung Quốc hiện nay đang được chiếm lĩnh thị trường trong mọi cấp độ thương mại bán buôn và bán lẻ, với mật độ tiêu dùng ngày càng đậm đặc hơn trên lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy, mức độ chi phối của nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Trung Quốc đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là lớn và đáng kể nhất. Vì vậy, nếu yếu tố địa, chính trị không tích cực, tình hình Biển Đông làm ảnh hưởng đến nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc về Việt Nam sẽ gây khó khăn cho sản xuất và kể cả tiêu dùng trong nước. Đây được xem như là thách thức lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

  Một số đề xuất

 Thứ nhất, kiên trì và có sự ưu tiên trong chính sách kích cầu đầu tư trong nước

   Kích cầu đầu tư trong nước là chính sách có hiệu ứng “hai trong một” đối với chúng ta hiện nay. Một mặt, nhằm mục tiêu khắc phục điểm yếu về kinh tế nội địa thời gian qua do đầu tư trong nước có xu hướng bị “chìm dần”. Với tỷ lệ đầu tư trên GDP 6 tháng đầu năm chỉ là 29%-30%, thì vẫn chưa đủ lực cho tăng trưởng cao hơn.

Mặt khác, số liệu 6 tháng cuối năm cho thấy đầu tư của khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, đang trong tình trạng rất yếu. Kích cầu đầu tư trong nước sẽ là một giải pháp để vượt qua các thách thức, khó khăn đến từ nguy cơ suy giảm do động thái quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc.

 Cùng với đó là việc tiếp tục điều hành linh hoạt, thận trọng và hiệu quả các chính sách tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, nhằm thúc đẩy đà phục hồi kinh tế, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý; điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp với mục tiêu đề ra (12%-14%, 6 tháng đầu năm mới chỉ đạt con số trên 2%). Phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và điều hành giá các hàng hóa dịch vụ do Nhà nước quy định...

  Thứ hai, tiếp tục coi đầu tư nước ngoài là động lực giúp vượt qua khó khăn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam

 Trước hết, phải thực hiện các biện pháp bảo đảm môi trường đầu tư cho các doanh nghiệp FDI đang hoạt động ở Việt Nam. Các địa phương cần quan tâm, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhận rõ môi trường đầu tư an toàn tại Việt Nam. Động viên, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm tiếp tục đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng các nhà đầu tư đối với Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan với Trung Quốc.

 Đối với các FDI của Trung Quốc trong lĩnh vực năng lượng, khoáng sản, các cơ quan quản lý nhà nước cần chỉ đạo các chủ đầu tư tăng cường trao đổi với các nhà thầu để kịp thời giải quyết những vướng mắc cụ thể.

Với các dự án do nhà thầu Trung Quốc là tổng thầu EPC, hoặc tham gia thực hiện các gói thầu, thì đi đôi với việc thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc để bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình.

Giao các chủ đầu tư tổ chức rà soát tiến độ, đánh giá chính xác khả năng làm chủ công nghệ của Việt Nam, cũng như khả năng hoàn thành, khoảng thời gian chậm cung cấp thiết bị, cung cấp tài chính của phía Trung Quốc, chủ động xây dựng phương án tìm nguồn tài chính, nguồn cung cấp thiết bị và nhà thầu thay thế. Đồng thời, chuẩn bị đầy đủ các thủ tục pháp lý sẵn sàng cho mọi trong tình huống,

Với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lao động giá rẻ và dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn của 90 triệu dân, cùng viễn cảnh lợi ích do các hiệp định thương mại, như: TPP mang lại cũng sẽ giúp cho FDI vào Việt Nam tiếp tục khả quan trong năm tới.

Ngoài ra, chi phí nhân công tại Trung Quốc tăng lên và vấn đề xung đột lãnh thổ phức tạp, uy tín và niềm tin trong cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc đang suy giảm rất mạnh... tất cả điều đó sẽ khiến các quốc gia có lượng vốn đầu tư ra nước ngoài lớn, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ cân nhắc thay đổi địa điểm đầu tư và Việt Nam là một trong những điểm đến đó.

Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng, để có thể thu hút được FDI từ các nước và các tập đoàn xuyên quốc gia, điều quan trọng là Việt Nam phải có sự chuẩn bị đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao.

 Thứ ba, giảm sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc

Trong thời gian tới, để giảm bớt nhập khẩu loại hàng hóa này, cần có hai hướng đi phù hợp:

 (i) Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa tự do thương mại quốc tế nhằm thoát khỏi quỹ đạo sử dụng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, thông qua các hiệp định, như: Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - EU, TPP. Các đối tác lớn quan tâm đến Việt Nam đều rất mong muốn đàm phán và thỏa thuận các hiệp định hợp tác kinh tế với Việt Nam. Do đó, chúng ta đang chủ trương thúc đẩy mạnh hơn các quá trình đàm phán này.

 (ii) Các nhà sản xuất tại Việt Nam cần cố gắng nội địa hóa nguyên liệu đầu vào để tăng cường quản lý chuỗi cung ứng của mình và giảm bớt sự phụ thuộc vào nguyên liệu từ Trung Quốc. Cần phải nghiên cứu phát triển sản xuất trong nước, tập trung vào mặt hàng Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động được.

Trong chiến lược nội địa hóa, do năng lực sản xuất nội địa còn yếu, chúng ta phải đa dạng hóa các nhà đầu tư nước ngoài, như: Nhật Bản, Hàn Quốc… cùng với họ phát triển công nghiệp phụ trợ và tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu, hạn chế nhập siêu.

Thứ tư, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Đây chính là giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển năng lực kinh tế nội địa để tăng trưởng nhanh và giảm sự phụ thuộc không hiệu quả vào Trung Quốc, giải cứu khó khăn cho nông nghiệp và nông thôn.

Theo đó, cần xác định sản phẩm nông nghiệp đặc trưng phù hợp với lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai của từng vùng, tiểu vùng nông nghiệp, hình thành sản phẩm chuyên môn hóa theo từng vùng, địa phương khác nhau. Tạo dựng các lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm nông nghiệp đặc trưng bằng cách đầu tư phát triển chuyên môn hóa với quy mô lớn; thu hút FDI vào nông nghiệp mang tính hàng hóa cao, tổ chức sản xuất theo các mô hình sản xuất mang tính tiên tiến, nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm nông nghiệp quy mô lớn, chất lượng và giá trị kinh tế cao, chi phí sản xuất giảm do tận dụng được lợi thế nhờ quy mô và tổ chức.

  Quy mô sản phẩm nông nghiệp lớn sẽ đặt tạo điều kiện phát triển các ngành có mối quan hệ ngược chiều (cung cấp đầu vào cho nông nghiệp) và xuôi chiều (xử lý đầu ra của sản phẩm nông nghiệp) thuộc về công nghiệp và thương mại - dịch vụ. Với cách phát triển theo chuỗi giá trị như trên, ngành nông nghiệp sẽ được tái cấu trúc theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp vẫn có xu hướng tăng lên theo giá trị tuyệt đối./.

 Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2014

 2. Tổng cục Thống kê (2014). Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014

 3. Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (2014). Báo cáo tình hình kinh tế tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2014

   GS, TS. Ngô Thắng Lợi,TS. Vũ Cương

Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 14/2014

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan