Cập nhật ngày 13/02/2014 - 16:17:36

           

Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra

- "Tái cơ cấu kinh tế” chắc chắn là một trong số các cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian gần đây, cho thấy sự quan tâm của toàn xã hội. Tuy nhiên, từ nhận thức đến hành động vẫn còn một khoảng cách khá xa và không dễ lấp đầy.

“Ngập ngừng” trong tái cơ cấu kinh tế

Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công

Nội dung cơ bản của tái cơ cấu đầu tư giai đoạn 2013 - 2020 là giảm đầu tư nhà nước, tăng đầu tư tư nhân, nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng, đặt đầu tư xã hội trong mối quan hệ cân đối với các biến số cơ bản khác của nền kinh tế.

Kết quả đạt được khá rõ nét trong 2 năm qua là tỷ trọng đầu tư/GDP đã giảm đáng kể, từ mức bình quân 39% trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn hơn 33% năm 2011; 30,5% năm 2012 và 30,4% năm 2013. Đồng thời, tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế đã giảm từ 136% GDP năm 2010 xuống còn 121% năm 2011 và còn 108% năm 2012. Tính theo giá so sánh, số vốn đầu tư nhà nước không tăng trong 3 năm gần đây; tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội giảm từ 51,8% thời kỳ 2001-2005, xuống còn khoảng 39% thời kỳ 2006-2010 và 37,4% trong 2 năm 2011-2012 và đặc biệt, đến năm 2013 là 40,4%, tăng 8,4% so với năm trước. Bên cạnh đó, đã đình hoãn, cắt giảm số lượng lớn dự án đầu tư; phân bổ vốn nhờ đó cũng đã tập trung hơn; ý thức trách nhiệm và kỷ cương nhà nước trong quản lý đầu tư công bước đầu được cải thiện.

Song, việc tái cơ cấu đầu tư công trong mấy năm qua về cơ bản mới chỉ mang tính tình huống, ngắn hạn; chủ yếu xử lý thực trạng quyết định đầu tư vượt quá khả năng cân đối vốn, đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ (đã tích tụ từ nhiều năm) hơn là thiết lập một thể chế mới để quản lý vốn đầu tư nhà nước và một hệ thống động lực mới thúc đẩy các bộ, địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhà nước. Chỉ thị 1792/CT-TTg, ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ chủ yếu là để giải quyết các vấn đề của quá khứ hơn là tạo khung khổ pháp lý nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong tương lại.

Trong khi thể chế mới cho quản lý phân bổ và sử dụng vốn đầu tư nhà nước chưa được thiết lập, thì có không ít dấu hiệu cho thấy nguy cơ nới lỏng chính sách tài khóa, gia tăng vốn đầu tư nhà nước và từng bước khôi phục lại đầu tư dàn trải, phân tán và kém hiệu quả là rất lớn. Các dấu hiệu đó là:

(i) Hiện nay, trước tình trạng suy giảm liên tục của nền kinh tế, trong 2 năm vừa qua, không ít ý kiến cho rằng, cần mở rộng đầu tư nhà nước, tăng cầu khu vực nhà nước, thay thế cho cầu tư nhân đang suy yếu. Thực tế điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ “có vẻ” như đang có phần thiên về ý kiến này.

(ii) Có ý kiến cho rằng, cắt giảm đầu tư nhà nước thực hiện theo Chỉ thị 1792/CT-TTg quá mạnh đã gây “shock” cho nền kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm suy giảm cầu, suy giảm kinh tế; các dự án dở dang, không có vốn để hoàn thành gây nhiều lãng phí cho xã hội. Ý kiến này cũng gây nên áp lực cho Chính phủ phải gia tăng chi tiêu đầu tư, ít nhất là để hoàn thành các dự án được coi là dở dang, nếu không hoàn thành sẽ gây lãng phí cho xã hội. Trên thực tế, một phần vốn trái phiếu chính phủ dự định phát hành thêm có thể sẽ phân bố để thực hiện các dự án dở dang loại này. Như vậy, phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách và vốn trái phiếu chính phủ theo khung khổ kế hoạch đầu tư trung hạn về cơ bản đã bị thay đổi.

(iii) Các địa phương nợ xây dựng cơ bản đến khoảng 91 nghìn tỷ đồng và có thể rồi Chính phủ sẽ phải chi trả, hoặc ít nhất sẽ cho phép chính quyền địa phương huy động trái phiếu để xử lý. Điều này có nghĩa là vốn huy động sẽ tiếp tục dùng để xử lý vấn đề quá khứ, thanh toán cho một phần không nhỏ các dự án còn dở dang, hoặc đã hoàn thành, nhưng kém hiệu quả.

(iv) Cuối cùng, thể chế hành chính chia cắt, phân tán theo địa giới hành chính với mỗi tỉnh, thành phố như “một nền kinh tế”, thì nguy cơ tái diễn đầu tư phân tán, dàn trải và kém hiệu quả vẫn rất lớn. Hiện tượng đầu tư theo phong trào sẽ vẫn tiếp diễn. Ví dụ, ngay trong những năm suy giảm kinh tế, cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu kinh tế, thì vẫn có thêm hai sân bay “cấp tỉnh” được bổ sung vào quy hoạch hoặc khai trương hoạt động.

Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Ngày 17/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”. Đề án tổng thể đã xác định một số nội dung cơ bản, bao gồm: Định vị lại vai trò và thu hẹp phạm vi kinh doanh của DNNN; Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn…

Trong hơn 1 năm qua, kết quả đạt được trong tái cơ cấu DNNN thường được nhắc đến, bao gồm: Đã phê duyệt được đề án tái cơ cấu đối với 68 tập đoàn, tổng công ty; về cơ bản đã hoàn thành phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015 trên phạm vi toàn quốc; Phần lớn các tập đoàn, tổng công ty đã rà soát, phân loại và xác định danh mục ngành nghề, phạm vi kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan và ngành nghề không liên quan.

Tuy vậy, so sánh thực tế các kết quả đạt được với định hướng tái cơ cấu nói trên, các giải pháp đang thực hiện chưa thật bám sát nội dung và yêu cầu chung. Cụ thể như sau:

Một là, tiến trình cổ phần hóa đang hết sức chậm; năm 2012 cả nước chỉ cổ phần hóa được 13 doanh nghiệp (bằng 14% kế hoạch) và trong 7 tháng đầu năm 2013 cũng chỉ cổ phần hóa 16 doanh nghiệp.

Hai là, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành đang gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể như: Tư duy, tiêu chí và cách thức thực hiện bảo toàn và phát triển vốn chưa phù hợp với cơ chế thị trường; Một số phương thức bảo toàn vốn theo quy định hiện hành còn hình thức và thiếu linh hoạt, làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp; Chưa thật sự thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, kinh doanh sáng tạo và cẩn trọng để bảo toàn và phát triển vốn… Nếu không có thay đổi về tư duy, cách tiếp cận và có những giải pháp kỹ thuật phù hợp, tương ứng, thì khó hoàn thành trước năm 2015 như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa XI) đã xác định.

Ba là, việc áp đặt đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hầu như chưa có chuyển biến, kể cả trong tư duy, quan niệm và hành động chính sách. Ví dụ, DNNN vẫn được sử dụng làm công cụ, là lực lượng vật chất để Nhà nước điều tiết thị trường, điều tiết nền kinh tế. Quan niệm và cách làm này không phù hợp với vai trò nhà nước nói chung và DNNN nói riêng trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, hàng loạt các nguyên tắc khác của thị trường vẫn chưa thực sự áp dụng đối với DNNN, như: Chưa đảm bảo nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu”; DNNN không áp dụng đầy đủ giá vốn theo cơ chế thị trường.

Bốn là, chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và thực tiễn quản trị tốt đối với DNNN. Yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị tốt theo thông lệ thị trường cũng đã được xác định từ lâu. Ví dụ, 30 quy tắc quản trị tốt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về quản trị tập đoàn, tổng công ty hiện nay vẫn chưa được áp dụng ở nước ta. Bên cạnh đó, khi cổ phần hóa chậm, thoái vốn đầu tư ngoài ngành gặp khó khăn, thì việc giảm bớt, thu hẹp phạm vị hoạt động của DNNN cũng chỉ là “chủ trương”, định hướng…

Về cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại

Cơ cấu lại các ngân hàng thương mại được xác định và phân chia thành 3 giai đoạn chính: tái cơ cấu các ngân hàng thương mại yếu kém, xử lý nợ xấu và tái cơ cấu toàn diện tất cả các ngân hàng.

Nhìn chung, đã đạt được một số kết quả, như: Đảm bảo được thanh khoản, an toàn của hệ thống đã được kiểm soát; Nguy cơ gây đổ vỡ, mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi; Các ngân hàng yếu kém đang được tái cơ cấu theo phương án đã được phê duyệt; Đề án "Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng" và Đề án "Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)" được phê duyệt tại Quyết định 843/QĐ-TTg, ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Theo báo cáo của Thống đốc Nguyễn Văn Bình tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 (ngày 24/12/2013), tính đến hết ngày 23/12, VAMC đã mua được 32.000 tỷ đồng nợ xấu.

Tuy vậy, cho đến nay, thông tin chính thức về kết quả và vấn đề tái cơ cấu các ngân hàng thương mại nhìn chung còn ít, thường chưa được kiểm chứng, như: cổ đông và cơ cấu sở hữu, vốn và cơ cấu vốn, kết quả kinh doanh từ thời điểm tái cơ cấu, số nợ xấu, cơ cấu nợ xấu và các con nợ chủ yếu, những thay đổi trong quản trị nội bộ, giải pháp tái cơ cấu tiếp theo và thời hạn hoàn thành tái cơ cấu đối với từng ngân hàng cụ thể…

Không ít ý kiến nghi ngại về sự thành công của cách thức “tái cơ cấu tự nguyện” đối với các ngân hàng thương mại yếu kém. Bởi, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không thể sử dụng những con người “gây ra vấn đề” để xử lý các vấn đề mà họ gây ra. Tình trạng sở hữu chéo dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn chưa được hạn chế, chưa được minh bạch hóa và chưa kiểm soát một cách có hiệu quả.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 31/12/2012, tỷ lệ nợ xấu là hơn 8,8% và đến cuối tháng 2/2013 giảm còn 6%, tiếp đến cuối tháng 9/2013 giảm chỉ còn chiếm 4,62% tổng dư nợ, với số tiền là 142,33 ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên, theo ước tính của Nguyễn Xuân Thành và nhóm nghiên cứu Fulbright (2013), số nợ xấu thực sự của các tổ chức tín dụng có thể cao gấp 3 lần con số công bố chính thức.

Hiện nay, việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu; cách thức xử lý nợ xấu như hiện nay có thể chỉ là “bỏ bớt” nợ xấu ra khỏi các tổ chức tín dụng, hoặc bằng biện pháp kế toán chuyển “nợ xấu” thành “chưa xấu”, hơn là loại bỏ nợ xấu ra khỏi nền kinh tế. Vì vậy, gánh nặng chi phí tài chính của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp không thanh toán nợ đúng hạn vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt. Các doanh nghiệp thuộc loại này, dù có cơ hội kinh doanh, có dự án đầu tư hiệu quả, vẫn có thể không tiếp cận được tín dụng ngân hàng, hoặc tiếp cận được với chi phí cao hơn đáng kể so với bình thường. Vì vậy, thị trường tín dụng chưa thể hoạt động bình thường, chưa thực hiện được đầy đủ chức năng trung gian tài chính trong phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng của nền kinh tế.

Và, các yếu tố thúc đẩy

Các yếu tố thúc đẩy và tạo điều kiện để tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng bao gồm: ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nhanh nguồn nhân lực, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng, theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), thì chất lượng cả 4 yếu tố nói trên của nước ta không tiến bộ nhiều trong thời gian gần đây, thậm chí có yếu tố đang bị xấu đi.

Về ổn định kinh tế vĩ mô, năm 2010 chỉ số kinh tế vĩ mô của nước ta đạt 4,8/7 điểm và được xếp thứ 65/142 nền kinh tế; năm 2013, điểm số này giảm xuống còn 4,4 và xếp hạng 87/148 nền kinh tế. Trên thực tế, kinh tế vĩ mô của nước ta đã ổn định dần, liên tục được cải thiện, nhất là từ năm 2012 đến nay. Lạm phát liên tục giảm từ khoảng 18% năm 2011 và nay ổn định dần ở mức khoảng 6-7%/năm (năm 2013 là 6,04%), tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ gia tăng; các cân đối vĩ mô cơ bản cũng được cải thiện. Kinh tế vĩ mô ổn định, niềm tin thị trường được khôi phục là yếu tố quan trọng không thể thiếu để tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Về phát triển nhanh nguồn nhân lực, chỉ tiêu này được đo bằng chất lượng giáo dục học nghề và đại học cũng không có cải thiện nhiều; tăng thêm được 0,2 điểm (từ 3,5 điểm năm 2010 lên 3,7 điểm năm 2012, và tương ứng từ thứ hạng 103/142 tăng lên 95/148 nền kinh tế).

Với chất lượng kết cấu hạ tầng, những tiến bộ về chất lượng hạ tầng những năm qua chủ yếu nhờ vào phát triển mạng thông tin di động; còn chất lượng của tất cả các loại kết cấu hạ tầng khác, như: đường sắt, đường bộ, hàng không, cảng biển, cung cấp điện... đều không được cải thiện hoặc kém đi theo mặt bằng quốc tế.

Về hoàn thiện thể chế, theo giới chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách trong nước, đây là điểm yếu nhất trong hệ thống kinh tế của chúng ta hiện nay. Cụ thể là, điểm số và xếp hạng chất lượng thể chế năm 2008 là 3,9/7 điểm, vị trí 63/133 và đến năm 2013 giảm xuống còn 3,5 điểm, vị trí 98/148. Điều đó cho thấy, những nỗ lực cải cách và công việc đã làm ở các lĩnh vực nói trên là chưa phù hợp; hoặc chưa đủ rộng, đủ mạnh và đủ sâu để tạo nên sự khác biệt nhằm đạt kết quả như mong muốn.

Đi sâu vào vấn đề, thể chế bao gồm 3 nội dung chính là: “luật chơi”, “cách chơi” và “người chơi”. Nhìn nhận chung, cách hình thành “luật chơi” và nội dung của “luật chơi” chưa có nhiều thay đổi. “Luật chơi” vẫn tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào các văn bản hướng dẫn thi hành luật (nghị định, thông tư) và các quyết định điều hành mang tính hành chính của các cấp có thẩm quyền. “Luật chơi” nói trên có thể đang quy định “cách chơi” theo lối “xin-cho” và “ban-phát”. “Luật chơi” và “cách chơi”  cũng sẽ quy định và lựa chọn “người chơi”; họ phải là những người có quyền “xin” và có thể xin được và người có quyền “cho”.

Bởi vậy, đột phá về thể chế phải là những cải cách mở rộng dư địa hoạt động và nâng cấp mức độ phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khống chế, hạn chế và dần triệt tiêu cơ chế “xin-cho, ban-phát”, thu hẹp khu vực kinh tế địa tô; khuyến khích và không ngừng mở rộng khu vực kinh tế tạo lợi nhuận, tạo giá trị gia tăng thông qua đổi mới quản lý, đổi mới phương thức sản xuất, đổi mới và chuyển giao công nghệ, cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường hiện đại.

Một số kiến nghị

Hiện nay, nhận thức, quan điểm và quan niệm về bản chất, nội dung của tái cơ cấu kinh tế vẫn còn chưa giống nhau, ngay cả trong các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách. Tác giả cho rằng, tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng về bản chất phải là cuộc cải cách lần hai; là quá trình thay đổi sâu rộng và nâng cấp thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam, tạo hệ thống động lực khuyến khích mới theo chuẩn mực kinh tế thị trường phổ biến và hiện đại, để thông qua đó thực hiện phân bổ lại và sử dụng nguồn lực quốc gia có hiệu quả hơn. Và như vậy, đổi mới kinh tế phải đi cùng với đổi mới đồng bộ hệ thống chính trị.

Theo tác giả, để tái cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả cao, đổi mới nhận thức, tư duy vẫn là điều kiện không thể thiếu không chỉ đối với giới lãnh đạo, mà cả giới chuyên gia hoạch định và tư vấn chính sách. Sự thay đổi cần thiết, đầu tiên là phải nhanh chóng chuyển trọng tâm chính sách phục hồi kinh tế từ chú trọng quản lý tổng cầu sang các giải pháp cải cách phía cung của nền kinh tế.

Trước hết, cần cải thiện môi trường kinh doanh, giảm và đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ. Cụ thể là:

- Bỏ 4 thủ tục gia nhập thị trường sau đăng ký, gồm: thủ tục đăng báo, thủ tục đăng ký lao động, đăng ký công đoàn và đăng ký bảo hiểm. Việc mở tài khoản ngân hàng có thể kết hợp và lồng với đăng ký kinh doanh.

- Bỏ yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

- Thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian và giảm chi phí xuất khẩu và nhập khẩu… Tính toán sơ bộ, nếu chúng ta giảm được 15 ngày trong thực hiện thủ tục xuất - nhập khẩu, thì GDP có thể tăng thêm hơn 27 tỷ USD.

- Ngoài ra, còn có thể thực hiện hàng loạt các thay đổi khác, như: ban hành, thực hiện trình tự đặc biệt cho việc giải quyết tranh chấp và thực thi các tranh chấp hợp đồng có giá trị nhỏ; hay đơn giản hóa thủ tục để được cung cấp điện…

Thứ hai, đối với tái cơ cấu đầu tư công

- Thay đổi chính sách phục hồi tăng trưởng theo hướng “trọng cung”. Nếu không thay đổi cơ bản cách tiếp cận trong chính sách phục hồi tăng trưởng và vẫn tiếp tục ưu tiên các giải pháp quản lý tổng cầu, thì các cải cách, thay đổi phía cung theo hướng giảm chi phí, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bị xem nhẹ, không đầy đủ, không phát huy tác dụng. Trong khi đó áp lực phục hồi tăng trưởng về ngắn hạn vẫn rất lớn, mở rộng đầu tư công chắc chắn vẫn sẽ là giải pháp đầu tiên được lựa chọn.

- Thiết lập được quy trình thống nhất thẩm định, lựa chọn, phê duyệt và quyết định đầu tư nhằm lựa chọn được dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

- Thay đổi vai trò của chính quyền địa phương, đổi mới phân cấp Trung ương - địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, đối với tái cơ cấu DNNN

Cần áp đặt một số nguyên tắc, kỷ luật thị trường đối với DNNN nói chung và tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng. Trong khi chưa áp đặt được đầy đủ các nguyên tắc và kỷ luật thị trường, thì chúng ta vẫn có thể buộc các DNNN phải: (i) Áp đặt đầy đủ ràng buộc về chi phí vốn trong đầu tư và kinh doanh của DNNN; Nhà nước phải lấy lợi nhuận với mức ít nhất bằng giá thị trường của vốn; (ii) Cho phép DNNN tự chủ hơn trong cơ cấu lại vốn và tài sản trong khuôn khổ mục tiêu và các chỉ tiêu đã định; (iii) Người đại diện chủ sở hữu, cán bộ quản lý phải trực tiếp chịu trách nhiệm giải trình đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Cần áp dụng một số nguyên tắc quản trị hiện đại đối với tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Điều này trước hết đòi hỏi phải có quan niệm coi quản trị doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng là một khung khổ với các yếu tố cấu thành của nó.

Áp dụng đầy đủ hoặc ít nhất là cải thiện đáng kể nguyên tắc công khai, minh bạch hóa thông tin và thiết lập cơ chế giám sát hữu hiệu đối với tập đoàn, tổng công ty nhà nước, bằng cách công bố thông tin theo các chuẩn mực của công ty cổ phần niêm yết. Bên cạnh đó, việc cải thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, đánh giá bên trong, trước hết là giám sát, đánh giá của chủ sở hữu cũng là việc có thể làm được ngay.

Trong khi chưa thiết lập được cơ quan chuyên trách, độc lập thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, thì tại từng bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của DNNN trực thuộc. Các bộ chuyên ngành, đại diện trực tiếp thực hiện các quyền chủ sở hữu nhà nước, phải xác định được sứ mệnh, vai trò và chức năng cụ thể của từng tập đoàn, tổng công ty. Trên cơ sở đó xác định cụ thể các mục tiêu, kèm theo đó là các chỉ tiêu thể hiện mục tiêu (làm thước đo để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu).

Đẩy nhanh hơn việc cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành cũng là giải pháp có thể thực hiện được ở mức độ nhất định. Cần thay đổi quan niệm về vai trò và chức năng của cổ phần hóa, thoái vốn, cụ thể như: cổ phần hóa không phải là để Nhà nước huy động vốn, mà là giải pháp thay đổi căn bản hệ thống động lực nội sinh và tạo áp lực thị trường đầy đủ đối với DNNN. Qua đó, tài sản quốc gia được quản lý và sử dụng có hiệu quả hơn, tạo thêm nhiều giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế.

Tương tự như vậy, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành không phải chỉ là để cắt lỗ, giảm lỗ, mà là giải pháp sử dụng cơ chế thị trường để phân bổ lại nguồn lực, làm sống lại một bộ phận nguồn lực hiện đang “chết” trong sự quản lý của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, đưa chúng quay trở lại sản xuất; và đưa bộ phận còn lại đang thua lỗ hoặc sử dụng kém hiệu quả thành các tài sản được sử dụng có hiệu quả hơn. Đó mới chính là “thoái vốn” ngoài ngành theo đúng tinh thần và nội dung của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thứ tư, đối với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng

Tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, xử lý nợ xấu và khắc phục tình trạng sở hữu chéo vẫn tiếp tục là các nhiệm vụ trọng tâm trong những năm tới. Việc có một đánh giá độc lập, khách quan hơn về tiến trình, kết quả và vấn đề của tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn rất cần thiết. Cần có trả lời khách quan và được xã hội tin cậy đối với các câu hỏi cơ bản, như: (i) Kết quả đạt được của tái cơ cấu 9 ngân hàng yếu kém đã đến mức nào? Số nợ xấu thực sự là bao nhiêu theo chuẩn quốc tế, chuẩn Việt Nam và theo yêu cầu tái cơ cấu, cơ cấu nợ xấu theo ngành, theo con nợ…? Thực trạng sở hữu chéo hiện nay như thế nào? Tác động có thể của nó đối với hiệu quả của chính sách tiền tệ, đến sự vận hành có hiệu quả của thị trường tài chính…?

Ngoài ra, cũng cần xem xét thay đổi một số quan điểm trong thực hiện tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, như: Quan điểm về tái cơ cấu tự nguyện, kinh nghiệm quốc tế cho thấy giao cho những người gây ra vấn đề chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề họ gây ra thường không thành công; Quan điểm không để đổ vỡ các tổ chức tín dụng nên thay bằng quan điểm “không để người gửi mất tiền”.

Bên cạnh đó, các giải pháp xử lý nợ xấu cũng cần được thực hiện đầy đủ và toàn diện hơn theo cơ chế thị trường, đảm bảo cân bằng hơn giữa lợi ích của ngân hàng và các doanh nghiệp con nợ./.

TS. Nguyễn Đình Cung
Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế TW

(Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 2/2014)

* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan