Cập nhật ngày 22/12/2018 - 08:53:46

           

Thu hút FDI trong bối cảnh mới: Việt Nam đang có lợi thế để lựa chọn

- Việt Nam đang có nhiều lợi thế để ra điều kiện với các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN), từ đó chọn lọc những dự án chất lượng mà Việt Nam mong muốn.

Ngày 21/12/2018, tại Vĩnh Phúc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị Định hướng thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.

Hội nghị được tổ chức nhằm tham vấn ý kiến về định hướng thu hút và sử dụng ĐTNN trong thời gian tới, xu hướng chuyển dịch của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới tác động đến Việt Nam. Đồng thời, lắng nghe khuyến nghị của các địa phương, hiệp hội doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài từ đó chọn lọc những ý kiến xác đáng để tổng hợp, tham mưu nhằm hoàn thiện thể chế, môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng phát biểu khai mạc Hội nghị/ Ảnh: mpi.gov.vn

Những tiền đề…

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, trải qua 30 năm, khu vực đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, là khu vực phát triển năng động, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đang trên đà cải cách mạnh mẽ và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, với vị thế và uy tín trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Việc cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng đã đạt được những kết quả bước đầu. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước ngày càng phát triển, hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân lớn. Đây là những yếu tố quan trọng tạo tiền đề tăng cường thu hút và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng ĐTNN trong giai đoạn tới.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp tục khẳng định khu vực ĐTNN là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài. Trong thời gian tới, Việt Nam tập trung thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ cao, quản trị hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trên nền tảng công nghiệp 4.0.

Tính đến tháng 11/2018, cả nước có khoảng 27.000 dự án của các nhà đầu tư đến từ 128 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký gần 340 tỷ USD và tổng vốn thực hiện khoảng 188,8 tỷ USD. Các dự án ĐTNN tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, chiếm 57%% tổng vốn đầu tư đăng ký. ĐTNN đã có mặt tại tất cả tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Hồng.

Đóng góp của ĐTNN thể hiện chủ yếu ở các phương diện sau:

Thứ nhất, ĐTNN là nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và là động lực tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua. Tỷ trọng vốn ĐTNN trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng từ 15% năm 2005 lên 23,7% năm 2017. Tốc độ tăng trưởng của khu vực ĐTNN đạt 12,6% năm 2017, cao nhất trong các thành phần kinh tế. Nếu trong giai đoạn 1986-1996, khu vực ĐTNN chỉ đóng góp 15% thì đến giai đoạn 2010-2017 đã đóng góp 27,7%.

Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin; đồng thời đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nhiều tỉnh, thành phố; góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế.

Thứ ba, ĐTNN đóng góp quan trọng vào việc duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong những năm gần đây. Từ năm 2010 trở lại đây, tăng trưởng xuất khẩu của khu vực ĐTNN cao gấp 2-3 lần so với khu vực trong nước; kim ngạch xuất khẩu gấp khoảng 1,5-2 lần. Tỷ trọng của khu vực ĐTNN trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 17% năm 1995 lên 72,5% năm 2017. Xuất siêu của khu vực ĐTNN đã góp phần cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Thứ tư, doanh nghiệp ĐTNN đã thực hiện chuyển giao công nghệ và nghiên cứu và phát triển (R&D) trong một số ngành, điển hình là dầu khí, viễn thông; một số ngành trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp. Khu vực ĐTNN có hiệu ứng lan tỏa năng suất và công nghệ sang khu vực trong nước.

Thứ năm, doanh nghiệp ĐTNN bước đầu đã có sự liên kết và thúc đẩy tăng trưởng năng suất thông qua việc sử dụng bán thành phẩm, sản phẩm trung gian, nguyên phụ liệu của doanh nghiệp trong nước.

Thứ sáu, khu vực ĐTNN đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách. Giai đoạn 1994 – 2000, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN đạt 1,8 tỷ USD thì giai đoạn 2011-2015 lên đến 23,7 tỷ USD, chiếm gần 14% tổng thu ngân sách nhà nước. Năm 2017, khu vực ĐTNN đóng góp hơn 8 tỷ USD, chiếm hơn 17% tổng thu ngân sách nhà nước.

Thứ bảy, ĐTNN tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Khu vực ĐTNN góp phần hình thành đội ngũ lao động có chất lượng cao, nhiều doanh nghiệp ĐTNN đã từng bước chuyển giao công nghệ, quy trình kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý cho cán bộ Việt Nam. Ngoài ra, việc thu hút và sử dụng ĐTNN đã góp phần tích cực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập.

Thứ tám, ĐTNN góp phần đáng kể trong nâng cao thế và lực của đất nước. Thông qua hợp tác ĐTNN, quan hệ ngoại giao kinh tế, hợp tác song phương và đa phương của Việt Nam với các đối tác ngày càng phát triển.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tham dự và có bài phát biểu quan trọng

Phía trước vẫn còn nhiều thách thức

Bên cạnh những thành tựu đạt được, ĐTNN thời gian qua còn một số hạn chế, bất cập như liên kết và hiệu ứng lan tỏa năng suất của khu vực ĐTNN đến khu vực trong nước còn thấp, nhiều dự án ĐTNN tập trung vào công đoạn gia công, lắp ráp; tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp ở mức dưới trung bình. Chuyển giao công nghệ thông qua ĐTNN chưa đạt kết quả như kỳ vọng; số dự án ĐTNN ở các ngành sử dụng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn chưa nhiều. Một số doanh nghiệp ĐTNN chưa tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật bảo vệ môi trường; một số doanh nghiệp ĐTNN có hành vi chuyển giá, thiếu trung thực trong báo cáo tài chính.

Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan như: nhận thức về vai trò, vị trí của ĐTNN chưa thực sự đầy đủ và thống nhất cao; hệ thống kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ và năng lực doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về thu hút và sử dụng ĐTNN; hệ thống thể chế, chính sách và môi trường đầu tư kinh doanh mặc dù đã được cải thiện mạnh mẽ trong những năm gần đây, song vẫn chưa thực sự đủ hấp dẫn đối với nhà ĐTNN, đặc biệt là các TNCs hàng đầu thế giới; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTNN chưa cao, công tác hướng dẫn, hỗ trợ, theo dõi, kiểm tra, thanh tra, giám sát từ các cơ quan trung ương chưa đầy đủ và kịp thời.

Thứ trưởng Thắng chỉ rõ, bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước đang đặt ra những cơ hội và thách thức đối với việc thu hút và sử dụng ĐTNN trong giai đoạn tới. Dòng ĐTNN toàn cầu đang có xu hướng giảm; những thay đổi và xung đột thương mại trên thế giới có tác động đến điều chỉnh dòng đầu tư của các quốc gia, trong đó có Việt Nam; áp lực cạnh tranh thu hút ĐTNN của một số nước trong khu vực ngày càng tăng; cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực.

Thứ trưởng cho biết, theo Đề án, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện 8 nhóm giải pháp chủ yếu như sau:

Một là, thống nhất nhận thức và hành động để triển khai các chủ trương, chính sách về ĐTNN

Hai là, hoàn thiện thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi để thu hút và sử dụng có hiệu quả ĐTNN

Ba là, vận hành có hiệu quả các loại thị trường và mở cửa thị trường để thu hút ĐTNN

Bốn là, khuyến khích, thúc đẩy, hỗ trợ việc liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp ĐTNN.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để định vị lại lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút ĐTNN.

Sáu là, thu hút và sử dụng ĐTNN gắn với khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Bảy là, điều chỉnh các chính sách thu hút và sử dụng ĐTNN liên quan đến các cam kết quốc tế.

Phải chọn lọc, có trọng tâm, trọng điểm trong thu hút ĐTNN

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, yêu cầu thu hút ĐTNN phải có chọn lọc, có trọng tâm, trọng điểm trên nguyên tắc đa phương hoá, đa dạng hoá nguồn vốn, đảm bảo phát triển nhanh và bền vững.

Cùng với đó, ĐTNN phải khuyến khích đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển, tăng cường sự hỗ trợ của doanh nghiệp ĐTNN với doanh nghiệp trong nước. Tăng cường liên kết, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỉ lệ nội địa hoá, gắn đầu tư nước ngoài với thúc đẩy sản xuất trong nước. Thu hút ĐTNN gắn với mở rộng thị trường trong khu vực và thế giới, gắn với việc đảm bảo ổn định và phát triển thị trường cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam.

Để đạt mục tiêu này, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, trước hết, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần chủ động rà soát, hoàn thiện thể chế, trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư xây dựng như Luật Đất đai, Luật Ngân sách, Luật Đầu tư…

Cùng với đó, phải đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức; xây dựng chính quyền phục vụ, vì doanh nghiệp, người dân thay vì chính quyền quản lý.

Các địa phương, đặc biệt là các địa phương đi trước, có nhiều thuận lợi trong thu hút ĐTNN cần tập trung chuẩn bị thật tốt các điều kiện để huy động nguồn lực, đón nhận dòng vốn ĐTNN.

Trong đó, cần rà soát lại các quy hoạch (quy hoạch xây dựng, hạ tầng, đô thị, cụm công nghiệp…) để điều chỉnh, cập nhật, bổ sung kịp thời. Gắn quy hoạch công nghiệp với quy hoạch phát triển đô thị, nhà ở, dịch vụ.

“Phải chủ động quỹ đất sạch cho phát triển công nghiệp. Cùng với đó, tập trung đầu tư hạ tầng, kết nối địa phương với vùng, quốc gia. Đặc biệt là hạ tầng kết nối các khu công nghiệp, hạ tầng bên trong khu công nghiệp”, Phó Thủ tướng nói.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng nhấn mạnh quan điểm đầu tư phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển nhà ở, đảm bảo các dịch vụ cho người lao động. Các nhà đầu tư cùng với địa phương thực hiện giải phóng mặt bằng, chú ý đảm bảo lợi ích của người dân.

Các địa phương cũng phải đổi mới, nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư. Trong đó, quan trọng nhất là hãy làm cho các nhà đầu tư đang đầu tư hài lòng, họ sẽ là những người xúc tiến tốt nhất.

Bên cạnh đó, cần chủ động đề xuất các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp để tháo gỡ, báo cáo Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền; đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; đảm bảo các điều kiện về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Muốn thế phải làm tốt các chính sách với người dân, đặc biệt là các chính sách giải phóng mặt bằng.

Đối với các nhà đầu tư, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đề nghị cần triển khai đầu tư đúng cam kết, đúng tiến độ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

 “Đặc biệt, phải quan tâm đến nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ, gắn kết với các doanh nghiệp Việt Nam để cùng phát triển. Đầu tư phát triển sản xuất gắn với nâng chất lượng đời sống người lao động; thực hiện tốt trách nhiệm xã hội; tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu bảo vệ môi trường”, Phó Thủ tướng đề nghị./.

An Nhi
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan