Cập nhật ngày 06/09/2019 - 20:59:16

           

Bình đẳng và chủ động trong hợp tác đầu tư nước ngoài

- Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng, Nghị quyết số 50-NQ/TW đã có những thay đổi rất quan trọng, trong đó, việc dùng từ “hợp tác đầu tư nước ngoài” đã thể hiện sự bình đẳng và sự chủ động của Việt Nam trong làm việc với các đối tác đầu tư nước ngoài; đặc biệt, đề cao hơn nữa trách nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ hoạt động ở Việt Nam.

 

Làn sóng thu hút đầu tư mới

Ngày 20/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Đây là một nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta trong thời kỳ mới.

Toàn cảnh buổi tọa đàm Nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam” 

Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức vào chiều ngày 6/9, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, ngay từ những ngày đầu mở cửa Đảng, Nhà nước cũng đã có chủ trương mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài để tận dụng tiềm năng lợi thế của họ trong vốn đầu tư, công nghệ… thực tế, các chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng 4 bộ luật quan trọng của đầu tư nước ngoài.

Đó là Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2014. Thông qua 4 bộ luật đầu tư này, Việt Nam đã tạo được cơ sở pháp lý rất quan trọng trong việc thu hút và xử lý vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một luồng vốn quan trọng hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo nhận định của Thứ trưởng Vũ Đại Thắng, bên cạnh những mặt tích cực, nguồn vốn FDI cũng có những hạn chế nhất định và đặc biệt đến thời điểm này, sau 30 năm, vị thế của đất nước có nhiều thay đổi. Việt Nam có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn và bây giờ đã đến thời điểm cần ưu tiên lựa chọn những doanh nghiệp, những dự án phù hợp với chiến lược phát triển về mặt khoa học, công nghệ… Còn đối với những dự án rủi ro về môi trường, xã hội thì cần loại bỏ.

Chính vì vậy, Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị lần này đã đưa ra những định hướng, chủ trương rất quan trọng để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới nhằm phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn quan trọng này và bên cạnh đó hạn chế những rủi ro mà dòng vốn FDI có thể mang lại.

Đặc biệt, trong Nghị quyết đã có những thay đổi rất quan trọng, đó là dùng từ hợp tác chứ không phải là thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Chữ “hợp tác” ở đây đã thể hiện sự bình đẳng và sự chủ động của Việt Nam trong làm việc với các đối tác đầu tư nước ngoài; đặc biệt, đề cao hơn nữa trách nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ hoạt động ở Việt Nam, Thứ trưởng Thắng chỉ ra.

Đồng tình với góc nhìn trên, TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, Bộ Chính trị đã đưa vào Nghị quyết cụm từ "hợp tác đầu tư", chứ không phải "kêu gọi đầu tư". Điều này chứng tỏ chúng ta có cách tiếp cận vốn với cách mới, chủ trương mới không phải thu hút mọi dự án, các dựa án nguy cơ an ninh, môi trường, công nghệ cũ không nên hợp tác.

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc cũng cho rằng, với định hướng mới đề ra trong Nghị quyết số 50-NQ/TW, Việt Nam sẽ mở ra một làn sóng thu hút đầu tư mới.

Chất lượng thu hút FDI chưa tương xứng với số vốn

Thời gian qua, bên cạnh những tác động rất tốt của thu hút FDI, tuy nhiên, có những điểm còn chưa thành công, như: hiệu quả của dòng vốn FDI chưa tương xứng với số lượng của các dự án đầu tư.

“Mục đích của chúng ta là sự chuyển giao công nghệ, sự lan tỏa công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước nhưng những điều này Việt Nam làm chưa được nhiều. Có thể nói, nếu đầu tư FDI không có sự lựa chọn thì sẽ không có sự kết nối được với những doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước; không những thế, còn có hiện tượng chèn lấn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam", ông Lộc cho biết.

“Bên cạnh đó, giá trị gia tăng của các dự án FDI tạo ra cho nền kinh tế của Việt Nam còn tương đối thấp; kết nối không cao… Ngoài ra, còn xuất hiện những doanh nghiệp FDI chuyển giá, gian lận thương mại. Hiện tượng đó, chúng ta cần có những biện pháp rất chuyên nghiệp và quyết liệt để khắc phục trong thời gian tới”, ông Lộc nhấn mạnh.

Người đứng đầu VCCI thẳng thắn chỉ ra, số vốn đầu tư FDI/dân số của Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực chỉ sau Singapore, song về chất lượng là chưa thành công khi hiệu quả của đầu tư FDI chưa tương xứng với số lượng dòng vốn chảy vào nền kinh cũng như đáp ứng sự mong đợi về tính lan tỏa về công nghệ hay liên kết, kết nối với khu vực doanh nghiệp trong nước.

 “Thu hút đầu tư FDI nếu không được lựa chọn sẽ không đạt mục tiêu kết nối và chậm chí còn ‘chèn lấn’ khu vực kinh tế tư nhân,” TS. Vũ Tiến Lộc nói.

Chủ tịch cơ quan đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cũng cho hay, khu vực FDI chiếm trên 50% doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến – chế tạo, tỷ lệ xuất khẩu chiếm trên 70% trong tổng kim ngạch, nhưng số công ty liên doanh chỉ chiếm 1/5 trong số doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp nước ngoài cho biết, tỷ trọng mua hàng nội địa chiếm 28%, nhưng số doanh nghiệp trong nước có quan hệ mua bán trao đổi lại không nhiều mà chủ yếu các doanh nghiệp FDI đang cung cấp cho

Chủ tịch VCCI đưa ra cảnh báo: “Có thể nói, việc kết nối là không tốt, khu vực FDI đang tồn tại như “một ốc đảo”, không bén rễ sâu trong nền kinh tế. Do đó, khi có những biến động, dòng vốn này hoàn toàn sẽ có thể rút ra khỏi Việt Nam.”

Bên cạnh những kết quả đạt được trong thu hút đầu tư nước ngoài, Bộ Chính trị cũng nhìn nhận những thực trạng còn hạn chế trong đầu tư FDI. Nghị quyết số 50 chỉ ra, “số lượng dự án quy mô nhỏ, công nghệ thấp, thâm dụng lao động còn lớn... Các hiện tượng chuyển giá, đầu tư 'chui,' đầu tư 'núp bóng' ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng. Một số doanh nghiệp, dự án sử dụng lãng phí tài nguyên, đất đai, vi phạm chính sách, pháp luật về lao động, tiền lương, thuế, bảo hiểm xã hội, môi trường...; phát sinh nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp cả trong nước và quốc tế.”

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng nhấn mạnh, trong tổng số 350 tỷ USD vốn FDI đăng ký đã có 180 tỷ USD bơm vào nền kinh tế. Dư địa còn đến 170 tỷ USD chưa được thực hiện. Lý do khách quan là bởi độ trễ của dự án đầu tư, song có một phần khác đến từ những dự án “ảo”, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, nhiều dự án đang ký vốn lớn song lại giải ngân rất thấp.

“Việc vào cuộc của các cấp, các ngành sẽ hạn chế được các dự án “vốn ảo” với mục tiêu tìm kiếm các dự án có hiệu quả. Tuy nhiên, trách nhiệm chính trong việc lựa chọn thuộc về các chính quyền địa phương. Việc cấp phép và giấy chứng nhận đầu tư là của chính quyền địa phương, do đó họ có quyền xây dựng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn thu hút vốn đầu tư, lựa chọn các dự án xác đáng”, Thứ trưởng Thắng nói.

Định vị thành phần kinh tế FDI bình đẳng

Mục tiêu cụ thể Nghị quyết 50 chỉ ra, dòng vốn đăng ký mới bình quân đạt 30-40 tỷ USD/năm, vốn thực hiện bình quân 20-30 tỷ USD/năm (giai đoạn 2021-2025) và tương ứng vốn đăng ký đạt 40-50 tỷ USD/năm, thực hiện 30-40 tỷ USD/năm (giai đoạn 2026-2030).

Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, bảo vệ môi trường, hướng đến công nghệ cao sẽ tăng 50% (vào năm 2025) và 100% (năm 2030) so với năm 2018 cùng tỷ lệ nội địa hoá tăng từ 20%-25% như hiện nay lên mức 30% (năm 2025) và 40% (năm 2030).

Để đạt các mục tiêu đặt ra, Nghị quyết 50 đã đề ra nhiều giải pháp và theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư là giải pháp “vừa kéo vừa đẩy” có thể giải quyết trúng và đúng những hạn chế nêu trên.

Thứ trưởng Thắng cho rằng, cần có cái nhìn toàn diện hơn là chỉ nhắm vào con số rồi quy chụp đầu tư FDI “lấn át” đầu tư trong nước và thay vì phê phán thì cần phải có các các chính sách thúc đẩy doanh nghiệp trong nước.

Do đó, bên cạnh các chính sách thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài tăng cường tính liên kết, liên thông, kết nối chuyển giao, mua sắm hàng hóa của doanh nghiệp trong nước, Nghị quyết 50 đồng thời quy định những “ràng buộc” quan trọng trong việc thu hút và giải ngân FDI trong giai đoạn tới.

“Theo cá nhân tôi, Nghị quyết 50 định vị thành phần kinh tế FDI bình đẳng và tuân thủ pháp luật Việt Nam như những thành phân kinh tế khác. Mục tiêu trong giai đoạn mới về vốn đăng ký và vốn thực hiện là “quan hệ hữu cơ” với nền kinh tế, theo đó khu vực FDI sẽ thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển trong xã hội,” ông Thắng nhấn mạnh.

Đại diện địa phương, Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng, ông Nguyễn Văn Thành cho rằng, nếu chỉ nhìn vào con số để nói doanh nghiệp FDI lấn át doanh nghiệp trong nước thì cũng cần cân nhắc. Thay vào đó, chúng ta cần thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước để đảm bảo tính kết nối, liên thông giữa đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.

Theo đó, chúng ta cần trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước để các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị của nhà đầu tư nước ngoài. Nghĩa là vừa “kéo”, vừa “đẩy” đối với các doanh nghiệp trong nước./.

Lê Vân
Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan