Dệt may, da giày cần xây dựng liên kết chuỗi chặt chẽ trong bối cảnh Covid-19

13:15 | 12/12/2020 Print
- Ngày 11/12, tại Hà Nội, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) đã tổ chức Hội thảo quốc tế ngành dệt may – da giày Việt Nam tổng kết 1 năm sau đại dịch Covid-19 và phát triển bền vững.

Dệt may, da giày chịu tác động mạnh từ dịch Covid-19

Chia sẻ tại hội thảo, bà Đỗ Quỳnh Chi, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ lao động cho biết, dịch Covid-19 khiến tổng cầu trên toàn thế giới đối với mặt hàng dệt may, da giày giảm mạnh. Nhu cầu ở EU giảm 27% tiêu thụ giày và 45% quần áo. Nhu cầu ở Mỹ giảm 21% tiêu thụ giày và 40% quần áo. Giá nhập khẩu giảm mạnh, đến tháng 9/2020, giá hàng may mặc vào Mỹ đã giảm khoảng 13%.

Các doanh nghiệp dệt may và giày dép Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động. Trong đó, có tới 94,2% doanh nghiệp da giày, 87,1% doanh nghiệp dệt may bị giảm đơn hàng; 84,5% doanh nghiệp da giày, 53,5% doanh nghiệp dệt may bị khách hoãn hủy đơn và 74,8 doanh nghiệp da giày, 22,9% doanh nghiệp dệt may không xuất khẩu được.

Toàn cảnh buổi hội thảo.

Đối với lĩnh vực dệt may nói riêng, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, quý II/2020 là thời gian ngành dệt may chịu tác động nặng nề nhất từ dịch bệnh với kim ngạch ngành dệt may giảm khoảng 23% so với cùng kỳ năm 2019. Đến quý III/2020, tình trạng này đã khởi sắc, song, cũng giảm khoảng 1,7%. Dự báo, năm 2020, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may chỉ đạt khoảng 35,2 tỷ USD, giảm khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm 2019. Đây là thiệt hại chưa từng có của ngành dệt may trong vòng hàng chục năm qua.

Tuy nhiên, do chiến tranh thương mại, đơn hàng đã chuyển mạnh sang Việt Nam và một số quốc gia khác. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu may mặc lớn nhất vào Mỹ. Nhờ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), dư địa tăng xuất khẩu vào EU còn rất lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Theo bà Đỗ Quỳnh Chi, xuất khẩu giày có thể tăng 50%, dệt may có thể tăng 67% vào năm 2025.

Thay đổi chiến lược sản xuất, kinh doanh

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ lao động cho biết, trước những tác động của dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp đã thay đổi chiến lược về phát triển sản phẩm và tìm khách hàng mới. Các doanh nghiệp đã bắt đầu một số điều chỉnh mang tính chiến lược trong thời gian từ 1-3 năm tới. Cùng với đó, có tới 55,7% doanh nghiệp dự định thúc đẩy tự động hóa, 49,8% sẽ phát triển sản phẩm mới, 39,9% sẽ đa dạng hơn nữa sản phẩm và 41,5% sẽ đầu tư nâng cao kỹ năng lao động.

Theo Khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ lao động, dịch Covid-19 đã khiến cho các doanh nghiệp tăng mạnh nhu cầu liên kết với các doanh nghiệp khác tại Việt Nam để đảm bảo chuỗi cung ứng giảm phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu.

Cụ thể, nhu cầu liên kết giữa các doanh nghiệp trong dịch Covid-19, như: mua - bán nguyên vật liệu trong nước để thay thế nguồn cung nhập khẩu bị gián đoạn hoặc có giá thành cao hơn; chia sẻ đơn hàng, đặc biệt giữa các công ty lớn và các công ty vừa và nhỏ; học hỏi kinh nghiệm của nhau, như: công nghệ, máy móc, thực hiện các tiêu chuẩn môi trường như xử lý nước thải, dùng năng lượng mặt trời...

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng cho biết, ngoài động lực từ dịch Covid-19, việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ cũng đang thúc đẩy các nhà máy và cả nhãn hàng tăng cường mua - bán nguyên vật liệu trong nước. Doanh nghiệp sợi trong nước đã tăng cường bán sợi cho nhiều doanh nghiệp FDI trong nước trong thời gian dịch.

Bên cạnh đó, có tới gần một nửa nhãn hàng thời trang cho biết sẽ tăng mua từ Việt Nam sau dịch Covid-19. Một phần do chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng và một phần do các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam vừa tham gia. Số còn lại cân nhắc về việc thiếu nguyên phụ liệu khiến các nhãn hàng từ châu Âu và khối Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) không được hưởng ưu đãi thuế qua Hiệp định EVFTA và CPTPP.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thời, Chủ tịch Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG chia sẻ, khi dịch COVID-19 xảy ra, việc đứt gãy nguyên phụ liệu từ nước ngoài khiến doanh nghiệp gặp khó, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn cung từ các nhà cung ứng trong nước. Chính dịch Covid-19 đã kéo doanh nghiệp trong nước lại gần nhau hơn, kết nối tốt hơn.

Cần xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ

Để thúc đẩy ngành dệt may, da giày phát triển trong thời gian tới, bà Đỗ Quỳnh Chi khuyến nghị, các doanh nghiệp trong xu hướng ngắn hạn và trung hạn là đa dạng hóa khách hàng, thị trường và sản phẩm là cứu cánh cho các doanh nghiệp dệt may duy trì sản xuất. Các doanh nghiệp lớn cần chuyển sang thực hiện các đơn hàng tự chủ tất cả các khâu, thay vì thực hiện các đơn hàng chỉ gia công. Trong dài hạn từ 3 năm trở lên, xu hướng là công nghệ xanh mạnh mẽ và tiếp tục tự động hóa.

Các chuyên gia cũng cho rằng, các doanh nghiệp phải có sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh. Trong đó, cần phát triển nguồn nguyên liệu cho ngành dệt may trong nước, để không bị phụ thuộc vào thị trường nước ngoài cũng như để nâng tầm vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng.

Bên cạnh đó, để kéo đơn hàng, cộng đồng doanh nghiệp phải xây dựng liên kết chuỗi chặt chẽ, chia sẻ thông tin, giải pháp công nghệ, quản trị, đặc biệt là chia sẻ về những đơn hàng trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.

Đồng thời, các doanh nghiệp cần tiếp tục cải thiện việc tuân thủ tiêu chuẩn lao động và môi trường theo các cam kết hội nhập, đặc biệt là CPTPP và EVFTA và tham gia trực tiếp nhiều hơn và sâu hơn vào chuỗi cung ứng để chủ động nguồn nguyên vật liệu, chiếm vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị.

Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam tin tưởng rằng: “chúng ta sẽ vượt khó trong năm 2021 và 2022, thậm chí năm 2023. Đến cuối quý III/2023 nếu Covid-19 kiểm soát được, thì sẽ về trạng thái bình thường của năm 2019. Các hiệp định thương mại tự do, nhất là EVFTA, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), CPTPP đang có kết cấu thị trường tương đối tốt”./.

Hồng Ánh

© Kinh tế và Dự báo - Bộ Kế hoạch và Đầu tư