Giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển đổi lên sàn chứng khoán Việt Nam

09:00 | 14/11/2021 Print
Cách đây hơn 10 năm, nhờ sự cởi mở của quy định pháp lý, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sau khi chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần đã niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, do vướng mắc của quy định pháp lý, nên thị trường chứng khoán Việt Nam không đón nhận thêm doanh nghiệp FDI nào sau khi chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán. Tình trạng này cần có giải pháp tháo gỡ, để vừa đáp ứng nhu cầu từ phía doanh nghiệp, vừa giúp đa dạng hóa nguồn cung cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp nhà đầu tư có thêm hàng hóa để lựa chọn và thị trường chứng khoán trở thành “hàn thử biểu” của nền kinh tế một cách đúng nghĩa hơn.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NIÊM YẾT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Với các quy định tại Nghị định số 38/2003/NĐ-CP, ngày 15/04/2003 của Chính phủ về chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần và Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg, ngày 29/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ quyết định về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, nhiều doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động sang hình thức công ty cổ phần đã thực hiện niêm yết cổ phiếu trên các sàn chứng khoán Việt Nam. Cụ thể, số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, tính đến hết năm 2019, có 11 doanh nghiệp FDI thực hiện niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán ở Việt Nam, như: Công ty Cổ phần Dây và Cáp điện Taya Việt Nam (mã chứng khoán TYA), Công ty Cổ phần Everpia (EVE), Công ty Cổ phần Mirae (KMR), Công ty Cổ phần Siam Brothers (SBV), Công ty Cổ phần Công nghiệp gốm sứ Taicera (TCR), Công ty Cổ phần Tập đoàn Nagakawa (NAG), Công ty Cổ phần Tung Kuang (TKU), Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (SBT), Công ty Cổ phần Gạch Men Chang Yih (CYC), Công ty Cổ phần Quốc tế Hoàng Gia (RIC), Công ty Cổ phần Full Power (FPC) (Hoàng Hà, 2020; Minh Trang, 2019).

Giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển đổi lên sàn chứng khoán Việt Nam
Tính đến hết năm 2019, có 11 doanh nghiệp FDI thực hiện niêm yết trên Sở GDCK

Tuy nhiên, đến năm 2020, đã có 3 doanh nghiệp bị hủy niêm yết do kinh doanh thua lỗ. Trong số 8 doanh nghiệp còn lại, thì có 4 doanh nghiệp hiện chỉ niêm yết số cổ phiếu chào bán chứng khoán ra công chúng, 4 doanh nghiệp đã được niêm yết 100% vốn điều lệ, bao gồm: Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (trước đây là Công ty Cổ phần Bourbon Tây Ninh), Công ty Cổ phần Mirae, Công ty Cổ phần Everpia, Công ty Cổ phần Siam Brothers Việt Nam, do đây là những doanh nghiệp tại thời điểm niêm yết lần đầu hoặc niêm yết bổ sung, vốn đầu tư nước ngoài đã giảm xuống dưới 49% vốn điều lệ và được áp dụng như các doanh nghiệp Việt Nam thông thường khác... (Hoàng Hà, 2020).

Nhiều doanh nghiệp FDI đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hướng dẫn việc niêm yết, đăng ký giao dịch theo hướng niêm yết toàn bộ cổ phiếu, chứ không phải chỉ một phần cổ phiếu đã chào bán ra công chúng và niêm yết bổ sung tiếp phần cổ phiếu của cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bất cứ thông tin phản hồi nào từ phía các cơ quan chức năng về giải quyết nguyện vọng đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán như mong đợi của các doanh nghiệp FDI. Cụ thể, thông qua việc Tập đoàn CT&D Đài Loan đề nghị được đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán (Hoàng Hà, 2020), Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 2066/VPCP-QHQT, ngày 09/3/2017 đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu điều chỉnh chính sách để nhà đầu tư/liên doanh nước ngoài có tỷ lệ cổ phần phù hợp có thể tham gia thị trường chứng khoán. Công ty Cổ phần Seoul Metal (SMV) đề nghị được niêm yết cổ phiếu lần đầu tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng công ty 100% vốn nước ngoài vào năm 2008, nhưng sau đó được chuyển đổi mô hình hoạt động và đăng ký là công ty đại chúng với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào ngày 06/9/2017. Hiện cổ đông nước ngoài nắm giữ 67,64% vốn điều lệ tại SMV, trong đó cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ 50,15% vốn điều lệ.

Hay trường hợp Công ty Cổ phần Công nghiệp Ngũ Kim Fortress Việt Nam cũng đề nghị được niêm yết cổ phiếu lần đầu tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Tiền thân là công ty trách nhiệm hữu hạn với 100% vốn nước ngoài từ năm 2006, sau đó Công ty này được chuyển sang hình thức doanh nghiệp cổ phần và hiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của bên nước ngoài tại Công ty là 89,98%.

Bên cạnh nhu cầu niêm yết cổ phiếu lần đầu như trên, có trường hợp doanh nghiệp muốn niêm yết bổ sung cổ phiếu của cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ, nhưng cũng chưa được cơ quan chức năng giải quyết. Cụ thể như: Công ty Cổ phần Công nghiệp Tung Kuang (đang niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội) đề nghị niêm yết bổ sung 84,52% vốn điều lệ còn lại cho 6 cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ chưa được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, nhưng chưa được đáp ứng (Hoàng Hà, 2020).

HẠN CHẾ, BẤT CẬP VÀ NGUYÊN NHÂN

Bên cạnh những kết quả nêu trên, việc để xuất hiện tình trạng doanh nghiệp FDI ách tắc trong nỗ lực đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán Việt Nam đang bộ lộc một hạn chế, số bất cập như sau:

Một là, Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, nêu quan điểm: xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hòa với các cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch và tính cạnh tranh cao... Từ định hướng lớn này, cũng như trong thực tiễn Việt Nam đang thực hiện rất nhiều giải pháp để kêu gọi, thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dòng vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp, việc chậm trễ trong tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp FDI niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán chính là đi ngược lại nỗ lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo thông lệ quốc tế. Hệ quả của tình trạng này là khi nhà đầu tư nước ngoài không được đáp ứng nhu cầu đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán ở Việt Nam, thì họ sẽ tìm đến các thị trường khác. Điều này đồng nghĩa với xuất hiện rủi ro dòng vốn đầu tư nước ngoài tìm cách “chảy” ra khỏi Việt Nam.

Hai là, trong bối cảnh nền kinh tế, cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày một hội nhập sâu rộng với thế giới, tình trạng cơ quan quản lý không trả lời kịp thời, rõ ràng, minh bạch về doanh nghiệp FDI có được hay không được niêm yết bổ sung cổ phiếu hoặc niêm yết mới cổ phiếu lên sàn chứng khoán, đang ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của nhà đầu tư nước ngoài về môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam nói chung, hoạt động của thị trường chứng khoán nói riêng.

Ba là, trong bối cảnh cơ quan quản lý, tổ chức vận hành thị trường chứng khoán ở Việt Nam đang triển khai nhiều giải pháp để phát triển thêm nguồn hàng hóa mới cho thị trường, từ đó gia tăng cơ hội đầu tư hấp dẫn cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, thì việc chậm trễ kéo dài trong tháo gỡ các vướng mắc để mở đường cho doanh nghiệp FDI đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán Việt Nam, đang cản trở nỗ lực phát triển nguồn hàng hóa mới cho thị trường để đáp ứng đa dạng hơn nhu cầu của nhà đầu tư.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên là cơ sở pháp lý trước đây hướng dẫn việc niêm yết, đăng ký giao dịch của doanh nghiệp FDI đã hết hiệu lực. Tuy các văn bản pháp luật hiện hành không còn đề cập đến vấn đề này, nhưng cũng không có quy định pháp luật nào hạn chế các doanh nghiệp FDI đăng ký niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luật Chứng khoán (năm 2019), có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 quy định: công ty cổ phần nếu đáp ứng đủ điều kiện, thì phải đăng ký công ty đại chúng với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và đăng ký giao dịch trên thị trường đăng ký giao dịch chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM). Do vậy, không thể kéo dài tình trạng thiếu văn bản pháp lý dưới luật hướng dẫn cho các doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi sang công ty cổ phần được niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ngoài ra, do e ngại xuất hiện rủi ro các doanh nghiệp FDI chuyển đổi sau khi đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán sẽ tìm cách rút vốn khỏi Việt Nam, trong khi giải pháp để kiểm soát mối lo này chưa đủ chặt chẽ, nên cơ quan quản lý chưa mặn mà đề xuất cơ chế cho phép các doanh nghiệp FDI đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán Việt Nam. Thêm vào đó, hiện tượng doanh nghiệp FDI chuyển giá, các doanh nghiệp phụ trợ thường phụ thuộc vào một khách hàng lớn cũng khiến cho tình trạng tài chính của một số doanh nghiệp FDI trở nên kém ổn định so với các doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn, nên cũng khiến cơ quan quản lý nhà nước vẫn chần chừ trong việc mở ra cơ chế cho phép các doanh nghiệp này niêm yết, đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán Việt Nam.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực nâng hạng thị trường chứng khoán từ “Cận biên” lên “Mới nổi”, cũng như thực thi các giải pháp để gia tăng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài chảy vào thị trường chứng khoán, việc cho phép doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi thành công ty đại chúng lên sàn chứng khoán là thêm một con đường thu hút dòng vốn FDI đã được “Việt Nam hóa”. Hơn thế, việc mở đường cho các các doanh nghiệp FDI lên sàn chứng khoán còn giúp tăng cường giám sát cả từ phía nhà đầu tư, cổ đông, tổ chức vận hành thị trường chứng khoán là sở giao dịch chứng khoán... đối với hoạt động của khối doanh nghiệp này, thay vì chỉ có các cơ quan quản lý nhà nước, như: cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế… giám sát. Do đó, đã đến lúc cơ quan quản lý nhà nước nên cân nhắc ban hành cơ chế cho phép các doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi sang mô hình công ty đại chúng tại Việt Nam được phép đưa cổ phiếu lên niêm yết, đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán. Một số đề xuất về chính sách cụ thể như sau:

Thứ nhất, khi xây dựng cơ chế cho phép các doanh nghiệp FDI lên sàn chứng khoán, thì cần đánh giá kỹ lưỡng các cam kết mà doanh nghiệp FDI thực hiện khi được cấp phép đầu tư tại Việt Nam, cũng như những yếu tố đặc thù trong hoạt động của các tổ chức này để có giải pháp ứng xử chính sách cho phù hợp, đồng thời đưa ra các điều kiện ràng buộc đặc thù.

Theo đó, cần có cơ chế kiểm soát một số doanh nghiệp FDI đặc thù để áp dụng biện pháp hạn chế niêm yết và đăng ký giao dịch. Cụ thể, các bộ, ngành liên quan cần thống nhất cách ứng xử đối với một số trường hợp doanh nghiệp FDI có mô hình hoạt động đặc thù theo hướng thận trọng và có sự phối hợp quản lý, giám sát chặt chẽ giữa các bộ, ngành khi xem xét cho phép niêm yết, đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán để tránh rủi ro cho nhà đầu tư, như: (i) Doanh nghiệp thành lập theo hình thức hợp đồng PPP; (ii) Doanh nghiệp thực hiện dự án mà trong hợp đồng có cam kết chuyển giao không bồi hoàn tài sản thuộc dự án cho Nhà nước Việt Nam hoặc cho bên Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước; (iii) Doanh nghiệp đã được chấp thuận hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh căn cứ theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có quy định về quốc tịch của nhà đầu tư được phép đầu tư kinh doanh; (iv) Doanh nghiệp được thành lập để thực hiện dự án trên cơ sở đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; (v) Doanh nghiệp thực hiện dự án với các cam kết về năng lực nhà đầu tư, ưu đãi đầu tư, các thỏa thuận ràng buộc được quy định cụ thể tại giấy chứng nhận đăng ký đầu tư/giấy phép đầu tư...

Bên cạnh các điều kiện niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội như quy định hiện hành, để kiểm soát rủi ro phát sinh sau khi doanh nghiệp FDI đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán, cơ quan quản lý nhà nước nên cân nhắc bổ sung các tiêu chí mà các doanh nghiệp này phải đáp ứng nếu muốn đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán, cụ thể: thời gian hoạt động tại Việt Nam; mức tăng trưởng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận hàng năm; tỷ lệ chuyển giao công nghệ… Ðiều này sẽ giúp lọc được các doanh nghiệp FDI có chất lượng để đưa lên sàn chứng khoán.

Thứ hai, phải tăng cường hơn nữa vai trò và trách nhiệm của cơ quan kiểm toán, công ty định giá trong quá trình tư vấn, xác định giá trị doanh nghiệp để đưa cổ phiếu lên sàn. Nếu doanh nghiệp đã từng áp dụng các “chiêu trò” chuyển giá, khiến cho vật tư, thiết bị, máy móc... tăng cao hơn giá trị của chúng trên thị trường, thì nhiệm vụ của cơ quan kiểm toán, công ty định giá là phải đưa những giá trị “ảo” này về giá trị thật, từ đó đảm bảo giá cổ phiếu chào bán ra thị trường sát thực với giá trị doanh nghiệp, tránh rủi ro cho nhà đầu tư mua phải cổ phiếu giá quá cao so với giá trị thực của doanh nghiệp.

Thứ ba, các cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hơn về trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với kết quả hoạt động của công ty, để đảm bảo chủ doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi phải chịu trách nhiệm về tình trạng kinh doanh thua lỗ, các tranh chấp phát sinh nếu có chứ không thể bỏ trốn. Thậm chí, ở cấp cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, đăng ký kinh doanh, cần có cơ chế hợp tác với cơ quan quản lý các nước có doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam để buộc chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm xử lý đến cùng các vấn đề xảy ra tại doanh nghiệp, chứ không phải bỏ trốn để “phủi” trách nhiệm.

Thứ tư, để kiểm soát rủi ro nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc đưa doanh nghiệp lên sàn chứng khoán để thoái vốn, rút vốn khỏi Việt Nam, nhà quản lý nên cân nhắc đưa ra quy định khống chế thời gian chuyển nhượng cổ phiếu của các cổ đông lớn, cổ đông sáng lập nước ngoài, chẳng hạn trong vòng 3-4 năm kể từ ngày niêm yết, đăng ký giao dịch cổ phiếu.

Thứ năm, để mở đường cho các doanh nghiệp FDI lên sàn chứng khoán Việt Nam đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lý, cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, cũng như các bộ, ngành liên quan cần rà soát kỹ lưỡng các cam kết quốc tế mà Việt Nam phải thực thi, cũng như các lĩnh vực mở cửa tối đa, hay hạn chế sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ sáu, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ, khả thi với các doanh nghiệp FDI lên sàn, đặc biệt là đặt ra yêu cầu buộc họ phải tuân thủ các quy định về: minh bạch báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, cũng như các loại thông tin khác như quy định của pháp luật chứng khoán…/.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/08/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030

2. Quốc hội (2020). Luật Đầu tư, số 61/2020/QH14, ngày 17/06/2020

3. Quốc hội (2019). Luật Chứng khoán, số 54/2019/QH14, ngày 26/11/2019

3. Chính phủ (2003). Nghị định số 38/2003/NĐ-CP, ngày 15/04/2003 về chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần

4. Thủ tướng Chính phủ (2005). Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg, ngày 29/09/2005 về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam

5. Hoàng Hà (2020). Kiến nghị 5 trường hợp doanh nghiệp FDI chưa được "lên sàn", truy cập từ https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/kien-nghi-5-truong-hop-doanh-nghiep-fdi-chua-duoc-len-san-d12091.html

6. Minh Trang (2019). Khó khăn nào cản bước doanh nghiệp FDI lên sàn?, truy cập từ https://www.thesaigontimes.vn/298038/kho-khan-nao-can-buoc-doanh-nghiep-fdi-len-san.html

(Bài viết được đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 23, tháng 8/2021)

ThS. Đặng Thị Bích Liên Khoa Kế toán Tài chính, Trường Đại học Hải Phòng

© Kinh tế và Dự báo - Bộ Kế hoạch và Đầu tư