Công tác đào tạo kế toán, kiểm toán trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

18:28 | 18/02/2022 Print
Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) với những thành tựu của khoa học, công nghệ, như: công nghệ số, internet kết nối vạn vật, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, Blockchain, Big Data… đã tác động mạnh mẽ đến mọi ngành nghề, trong đó có lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Bài viết này sẽ đánh giá về những cơ hội cũng như khó khăn, thách thức trong công tác đào tạo kế toán, kiểm toán trong bối cảnh CMCN 4.0, từ đó, đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này.

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0

CMCN 4.0 đã tạo ra những nền tảng mới hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho các công việc của kế toán, kiểm toán; Cung cấp cho doanh nghiệp giải pháp quản trị tài chính thông minh, các phần mềm tích hợp dịch vụ hóa đơn điện tử, kết nối ngân hàng điện tử, kê khai thuế qua mạng… công nghệ mới được đưa vào sản phẩm giúp công việc kế toán trở nên thông minh, nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Trong bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0, tại Việt Nam, thời gian qua, công tác đào tạo nhân lực kế toán, kiểm toán đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp; đồng thời, thường xuyên cập nhật theo sự thay đổi của chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kế toán quốc tế.

Công tác đào tạo kế toán, kiểm toán trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0
CMCN 4.0 đã làm thay đổi tư duy, phương thức làm việc của công tác kế toán.

Hiện nay, khung chương trình đào tạo kế toán, kiểm toán tại các trường đại học có sự khác biệt nhất định, một số cơ sở giáo dục đã nắm bắt được xu hướng hội nhập, tham khảo các chương trình đào tạo ngành kế toán, kiểm toán của các trường đại học tiên tiến trên thế giới; ứng dụng các chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình liên kết quốc tế; đưa vào chương trình giảng dạy một số môn học của các tổ chức nghề nghiệp kế toán quốc tế.

Tuy nhiên, sinh viên ít được tiếp xúc với thực tế tại doanh nghiệp mà chỉ được tham gia ở góc độ kiến tập, việc đánh giá mức độ hiểu biết, tiếp cận thực tiễn công tác kế toán ở đơn vị thực tập của sinh viên còn nhiều hạn chế. Đội ngũ giảng viên và quản lý đã từng bước được nâng cao cả về chất lượng và số lượng, 100% giảng viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo từ thạc sỹ trở lên đối với giảng dạy đại học (Lê Thị Thanh Hải, 2021). Mặc dù, đào tạo kế toán, kiểm toán tại Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống, như: thuyết trình, diễn giảng, mà ít có sự tương tác. Trên thực tế, phương pháp này không còn phù hợp, hiệu quả giảng dạy đem lại là không cao. Nhiều giảng viên đã ứng dụng các phương pháp hiện đại vào giảng dạy, tuy nhiên, đi cùng với các phương pháp hiện đại, thì cũng đòi hỏi phải đầu tư công nghệ, thời gian xây dựng bài giảng… Do vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy kế toán, kiểm toán vẫn chưa toàn diện.

Bên cạnh đó, các học liệu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập chuyên ngành chủ yếu được xây dựng dựa trên chuẩn mực, chế độ kế toán, kiểm toán Việt Nam, do Bộ Tài chính ban hành tập trung nhiều vào kỹ thuật nghiệp vụ, ít được cập nhật, chuẩn hóa theo các tài liệu, chuẩn mực kế toán quốc tế. Các tài liệu còn ít các tình huống thực tiễn tại doanh nghiẹp hạn chế khả năng tư duy, suy luận logic của sinh viên...

CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0

Cơ hội đem lại

Một là, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa thúc đẩy sự lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động giữa các quốc gia, tăng cường đầu tư trực tiếp tạo thêm nhiều việc làm và nhân lực kế toán, kiểm toán Việt Nam có nhiều cơ hội di chuyển trong thị trường lao động khối ASEAN. Nhờ đó, các cơ sở giáo dục, đào tạo kế toán cũng có nhiều cơ hội tiếp xúc, mở rộng hợp tác với các chương trình đào tạo tiên tiến nước ngoài.

Hai là, CMCN 4.0 đã làm thay đổi tư duy, phương thức làm việc của công tác kế toán, kiểm toán cũng như công tác đào tạo nhân lực kế toán, kiểm toán. Các hình thức đào tạo mới ra đời như E-learning, mobile-learning, đào tạo từ xa… đã xuất hiện và từng bước khẳng định được vai trò của nó so với phương thức đào tạo truyền thống. Nhờ các ứng dụng công nghệ thông tin vào đào tạo giúp các sinh viên kế toán, kiểm toán có thể tiếp xúc nhiều hơn với giảng viên, với các học liệu điện tử, như: sách điện tử ebook, bài giảng điện tử, ngân hàng câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả quá trình tự học của sinh viên… do giảng viên xây dựng đựợc tích hợp trên môi trường công nghệ, đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của người học mọi lúc, mọi nơi.

Một số khó khăn, thách thức đặt ra

Thứ nhất, CMCN 4.0 đã tạo ra “làn sóng” dịch chuyển nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán trong khu vực; nhưng cũng sẽ tạo ra một môi trường hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và gay gắt trên thị trường lao động kế toán, kiểm toán. Đây là thách thức cho các cơ sở giáo dục cần thay đổi chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra của khu vực và thế giới; từ đó, tăng số cơ sở đào tạo được chấp nhận văn bằng chứng chỉ tại nước ngoài.

Thứ hai, CMCN 4.0 yêu cầu phương pháp đào tạo kế toán, kiểm toán cần thay đổi theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật số, hệ thống mạng. Các hình thức đào tạo online, đào tạo ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng… sẽ là xu hướng đào tạo kế toán, kiểm toán trong tương lai. Điều này tạo áp lực lớn cho các cơ sở đào tạo về kế toán, kiểm toán phải chuẩn bị thật tốt về nguồn lực tổ chức giảng dạy, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, không gian học tập nhằm đáp ứng cho “Giáo dục 4.0”.

Thứ ba, với CMCN 4.0, những lao động kế toán, kiểm toán có trình độ thấp sẽ bị đào thải và thay thế bởi máy móc thiết bị, trí thông minh nhân tạo sẽ thay thế người lao động. Điều này dẫn đến lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán đối mặt với thách thức dư thừa nguồn lao động kế toán trình độ thấp, tăng tỷ lệ thất nghiệp.

Theo các chuyên gia kinh tế, đào tạo kế toán, kiểm toán đang đứng trước thách thức rất lớn khi ước tính trong khoảng 10 năm tới khoảng 70% kỹ năng lao động hiện nay sẽ biến mất và 80% kỹ năng mới sẽ xuất hiện (Lê Thị Thanh Hải, 2021). Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kế toán 4.0 yêu cầu các cơ sở đào tạo cần trang bị cho sinh viên các kỹ năng mà người máy, trí tuệ nhân tạo chưa thể đáp ứng được, như: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống, tư duy phản biện, khả năng sáng tạo, khả năng tự nghiên cứu, tự học…

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Theo tác giả, để nâng cao chất lượng công tác đào tạo kế toán, kiểm toán trong bối cảnh CMCN 4.0, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Về phía Nhà nước

- Rà soát và kiểm tra chất lượng của các cơ sở có đào tạo ngành kế toán, kiểm toán một cách hợp lý, khoa học đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn đánh giá mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Đẩy mạnh hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; Khuyến khích các cơ sở đào tạo ngành kế toán, kiểm toán thiết lập các phòng kế toán ảo tạo điều kiện cho sinh viên được học và thực hành gần với thực tiễn công tác kế toán tại các công ty.

- Đưa ra dự báo nhu cầu nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán đáp ứng nhu cầu xã hội, từ đó xác định hướng đi cho công tác đào tạo kế toán, kiểm toán. Mở rộng hợp tác song phương trong lĩnh vực đào tạo với các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài.

Về phía các doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

- Các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán, các doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ đào tạo về kế toán, kiểm toán cho sinh viên đến thực tập tại đơn vị, đánh giá kết quả sinh viên tại cơ sở đào tạo.

- Tham gia đóng góp ý kiến về nhu cầu, định hướng và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động.

Về phía các các cơ sở đào tạo ngành kế toán, kiểm toán

- Cần có cải cách lớn về việc xây dựng chương trình đào tạo nhằm chuẩn đầu ra của từng học phần với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Các mục tiêu và chuẩn đầu ra đó đo lường được theo các bộ tiêu chuẩn được trong nước và quốc tế thừa nhận. Tăng cường số tín chỉ đào tạo cho các học phần có tính ứng dụng công nghệ, như: hệ thống thông tin kế toán, kế toán máy để sinh viên có thể làm được ngay từ khi ngồi học trên ghế nhà trường ở mức cơ bản và nâng cao. Đồng thời, đưa vào chương trình giảng dạy một số môn học của các tổ chức nghề nghiệp kế toán quốc tế.

- Phát triển đào tạo trực tuyến, xây dựng hệ thống học liệu mở, thư viện điện tử, các chương trình đào tạo e-learning, đào tạo từ xa cho người hành nghề, giảng dạy và cả những sinh viên, học viên của ngành kế toán, kiểm toán.

- Tăng cường thời gian đi thực tế tại doanh nghiệp cho sinh viên. Thay đổi phương pháp đào tạo trên cơ sở lấy sinh viên làm trung tâm, ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng, giảng dạy qua hình ảnh, qua các mini game, tạo các case study, cho làm bài tập nhóm…

- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong các cơ sở đào tạo kế toán, kiểm toán, gắn nghiên cứu với các hoạt động chuyển giao ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán.

Về phía các giảng viên giảng dạy kế toán, kiểm toán

- Đội ngũ giảng viên cần phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, như: tham gia các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ ngoại ngữ.

- Xây dựng chi tiết đề cương chi tiết học phần do mình đảm nhận phù hợp với mục tiêu chung của chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo kế toán, kiểm toán. Áp dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt trong giờ giảng, như: thảo luận nhóm, giảng dạy bằng tình huống, phương pháp đóng vai hoặc cho chơi các trò chơi để kiểm tra kiến thức cuối mỗi buổi học nhằm chuyển tải được nội dung tới người học. Nên áp dụng phương pháp đánh giá cả quá trình học của người học, chứ không nên để trọng số điểm dồn vào cuối kỳ thi kết thúc học phần của người học. Rèn luyện các năng lực truyền đạt; truyền cảm hứng, năng lực không ngừng học tập và phát triển bản thân; năng lực sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại trong giảng dạy.

- Cần tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp đối với người giảng viên, đó là sự trung thực, đáng tin cậy là điểm tựa cho sinh viên, có đam mê và gắn bó lâu dài với sự nghiệp giảng dạy, tận tâm, tận tụy với công việc định hướng sinh viên, trong giao tiếp luôn ứng dụng các quy tắc ứng xử chuẩn mực, là người có trình độ cao, có thói quen học tập và nghiên cứu không ngừng.

Về phía sinh viên và học viên ngành kế toán, kiểm toán: Không ngừng nỗ lực trong rèn luyện kỹ năng tự học, chủ động nâng cao kỹ năng ngoại ngữ, tin học, làm việc trên các phần mềm kế toán hiện đại; rèn luyện các kỹ năng mềm, như: giao tiếp, lập kế hoạch, làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề và có tư duy phản biện… Phát huy tính sáng tạo, đồng thời tranh thủ học mọi lúc, mọi nơi./.

Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội (2019). Luật Giáo dục đại học, số 43/2019/QH14, ngày 14/6/2019

2. Mai Ngọc Anh (2021). Chuyển đổi số giảng dạy kế toán trong bối cảnh đào tạo từ xa, tham luận Hội thảo trực tuyến với chủ đề “Chuyển đổi số giảng dạy Kế toán trong bối cảnh đào tạo từ xa”, do Công ty cổ phần MISA phối hợp cùng Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, Học viện Tài chính tổ chức ngày 25/8/2021

3. Lê Thị Thanh Hải (2021). Đào tạo nhân lực kế toán, kiểm toán trong bối cảnh hội nhập và Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Tài chính, kỳ 2, tháng 7/2021

4. Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2021). Cơ hội và thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với công tác kế toán hiện nay, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 26

5. Nguyễn Thị Kiều Thu (2021). Tác động của khoa học, công nghệ tới công tác kế toán ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 16

6. Lê Thị Oanh (2019). Cách mạng công nghiệp 4.0 và những tác động đến nghề kế toán viên, truy cập từ https://tapchitaichinh.vn/ke-toan-kiem-toan/cach-mang-cong-nghiep-40-va-nhung-tac-dong-den-nghe-ke-toan-vien-305965.html

ThS. Trần Thị Hồng Huệ

ThS Nguyễn Thị Hồng Duyên

Trường Đại học Đại Nam

(Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 29 năm 2021)

© Kinh tế và Dự báo - Bộ Kế hoạch và Đầu tư