Tác động của đại dịch Covid-19 đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và một số khuyến nghị

08:00 | 05/05/2022 Print
Diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 cùng các biện pháp chống dịch đã khiến hoạt động đầu tư, hợp tác kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) nói chung, DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam nói riêng gặp không ít thách thức, rủi ro. Bài toán đặt ra lúc này là làm sao để vừa giữ chân DN, vừa tránh đứt gãy chuỗi cung ứng?...

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN DN FDI VÀ ỨNG PHÓ CỦA CHÍNH PHỦ

Tác động của đại dịch Covid-19 đến DN FDI

Có thể nói, đại dịch Covid-19 đang tác động hết sức tiêu cực đến khu vực FDI, trong đó có việc thu hút nguồn vốn này. Đặc biệt, đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 đã tác động trực tiếp vào các trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, như: TP. Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương… là những nơi tập trung nhiều DN FDI, khiến các DN bị ảnh hưởng nặng nề, làm đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất, nhiều DN bị đảo lộn sản xuất, kinh doanh, có DN phải dừng một phần, thậm chí có DN phải dừng toàn bộ hoạt động. Theo đó, thu hút vốn đầu tư phát triển của khu vực FDI đạt thấp. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2020 giảm 25% so với năm 2019. Riêng 10 tháng năm 2021, tính đến ngày 20/10/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt 23,74 tỷ USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh đó, có 1.375 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giảm 34,5%), tổng vốn đăng ký đạt trên 13 tỷ USD (tăng 11,6% so với cùng kỳ); 776 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 14,4%), tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 7,09 tỷ USD (tăng 24,2% so với cùng kỳ); 3.063 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (giảm 43,8%), tổng giá trị vốn góp đạt 3,63 tỷ USD (giảm 40,6% so với cùng kỳ). Ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được 15,15 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2020, giảm nhẹ 0,6 điểm phần trăm so với 9 tháng năm 2021.

Tác động của đại dịch Covid-19 đối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và một số khuyến nghị
Đại dịch Covid-19 đang tác động hết sức tiêu cực đến khu vực FDI. Ảnh: Internet.

Sự sụt giảm đáng kể số lượng dự án cấp mới và điều chỉnh vốn của các dự án FDI có nguyên nhân là do, việc hạn chế nhập cảnh và chính sách cách ly dài ngày làm chững lại các đoàn chuyên gia và nhóm phát triển dự án vào Việt Nam khảo sát, làm các thủ tục đầu tư. Ngoài ra, việc phong tỏa nhà máy và hạn chế di chuyển của người lao động trong các khu công nghiệp làm đình trệ sản xuất, giảm công suất và sản lượng, đứt gãy chuỗi cung ứng cũng góp phần ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư mới đang có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, các dịch vụ hậu cần cũng khó khi thiếu nguồn cung, chi phí xuất khẩu gia tăng. Chi phí cho hoạt động “3 tại chỗ” (sản xuất tại chỗ; ăn tại chỗ; nghỉ ngơi tại chỗ luân phiên theo kíp sản xuất) là thách thức lớn, việc làm hạn chế…

Không những thế, do đóng cửa nhà máy, thiếu hụt lao động để sản xuất, nên nhiều đơn hàng phải chuyển sang các địa bàn khác trong chuỗi cung ứng. Tuy đây chỉ là giải pháp tạm thời, nhưng nếu kéo dài tình trạng này thì có khả năng nhà đầu tư sẽ chuyển sản xuất sang nước khác. Cùng với đó, chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc của Việt Nam (giảm số lượng, tăng về chất lượng) làm loại bỏ các dự án quy mô nhỏ, ít giá trị gia tăng.

Mới đây, Phòng Thương mại và Công nghiệp Pháp tại Việt Nam (CCIFV) cũng đã tiến hành khảo sát nhằm đánh giá những khó khăn, hạn chế mà các DN nhỏ và vừa Pháp tại Việt Nam phải đối mặt do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Theo kết quả khảo sát, mặc dù Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực được một năm (từ ngày 01/8/2021), nhưng giao thương Việt - Pháp giảm từ 7,26 tỷ EURO năm 2019 xuống còn 6,34 tỷ EURO năm 2020 (giảm 12,7%). Nhiều nhà đầu tư và chuyên gia không thể vào Việt Nam để khởi động dự án. Khảo sát cũng cho thấy, có 24% các DN Pháp hoạt động tại Việt Nam dưới 10 năm và 37% hoạt động trên 10 năm đang chật vật để duy trì sự tồn tại. 78% DN cho biết, hoạt động của họ giảm ít nhất 40% trong 2 tháng qua. Trong đó, 72% trả lời hoạt động của họ phải dừng lại và giảm với mức 80%. Chỉ có 17% cho rằng, họ ít hoặc không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Để trở lại hoạt động, 51% DN cho biết, họ cần ít nhất 6 tháng để quay lại hoạt động bình thường. 62% DN cho biết, sẽ ngừng hoạt động nếu tình hình không được cải thiện trong 12 tháng tới. 65% trong số đó sẽ ngừng ngay hoạt động nếu trong 3 tháng tới tình hình vẫn chưa được cải thiện (Trần Trọng Triết, 2021).

Ứng phó trước tác động từ đại dịch Covid-19 từ phía Chính phủ và cộng đồng DN FDI

Đứng trước thách thức đó, thời gian vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã luôn đồng hành, chia sẻ với những khó khăn mà DN nói chung, DN FDI nói riêng phải đối mặt và luôn nỗ lực hành động vì một mục tiêu cao nhất là phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả, đồng thời hỗ trợ DN sản xuất, kinh doanh, đảm bảo hài hòa, hợp lý giữa phòng, chống dịch và triển khai hoạt động như tinh thần của Nghị quyết số 105/NQ-CP, ngày 09/9/2021 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19 là: “Chống dịch để sản xuất và sản xuất để chống dịch. Lợi ích hài hòa - rủi ro chia sẻ”.

Ngày 19/4/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021. Gần đây nhất, ngày 09/9/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 105/NQ-CP về hỗ trợ DN, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19, với mục tiêu tập trung khôi phục, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN, hợp tác xã, hộ kinh doanh gắn với bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19.

Đặc biệt, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đưa ra hàng loạt các chính sách hỗ trợ kịp thời, tiêu biểu như: Cắt giảm 30% thuế thu nhập DN (TNDN) phải nộp của năm 2021 cho các DN chủ yếu thuộc quy mô vừa và nhỏ, có doanh số dưới 200 tỷ đồng/năm; kéo dài thời gian miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ ngày 01/01/2021 tới năm 2025 (miễn khoảng 7.500 tỷ đồng/năm); giãn, hoãn thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, tiền thuê đất và các chính sách nới lỏng về tín dụng của các ngân hàng.

Ở chiều ngược lại, cộng đồng DN, trong đó có DN FDI, đã thể hiện tinh thần đoàn kết, chung tay chia sẻ có trách nhiệm với Chính phủ, chính quyền địa phương, hỗ trợ người dân, cộng đồng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19 bằng nhiều hình thức. Các DN đã thể hiện tinh thần vượt khó, thích ứng với tình hình mới, duy trì sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội.

Phát biểu tại Tọa đàm “Covid-19 và FDI: Tác động và triển vọng” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức vào ngày 27/9/2021, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thị Bích Ngọc cho biết, vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp cùng Liên minh Diễn đàn DN Việt Nam (VBF), các hiệp hội DN thành viên tiến hành điều tra khảo sát hơn 500 tập đoàn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Các DN đều đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc ứng phó dịch bệnh, bày tỏ sự lạc quan vào khả năng phục hồi kinh tế của Việt Nam và cam kết tiếp tục đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy, có 67% số DN châu Âu đánh giá tích cực về triển vọng môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. DN Nhật Bản bày tỏ sự lạc quan vào khả năng kinh tế Việt Nam phục hồi sớm trong năm 2021, trong đó 47% có kế hoạch mở rộng sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. DN Hàn Quốc đều có kế hoạch đầu tư mới tại Việt Nam. Phần lớn DN Hoa Kỳ đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ, tin tưởng Việt Nam sẽ sớm khống chế dịch bệnh... (Nhóm PV, 2021).

Những tín hiệu tích cực này đã cho thấy sự lạc quan, tin tưởng của các DN FDI về khả năng phục hồi phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ của Việt Nam thời gian tới. Đồng thời, khẳng định Việt Nam vẫn sẽ là điểm đến đầu tư an toàn, hấp dẫn và tiềm năng đối với các nhà đầu tư.

Tuy nhiên, nền kinh tế nói chung, DN nói riêng vẫn còn hết sức khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó dự báo, biến chủng Delta lây lan nhanh, gây sức ép lớn về thời gian và khối lượng công việc ban hành các chính sách hỗ trợ. Một số cơ chế, chính sách chưa bảo đảm tính tổng thể, chưa bao quát hết được tính chất, quy mô, mức độ khẩn cấp như đại dịch Covid-19. Theo khảo sát gần 10.200 DN trên toàn quốc của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) (2021), trung bình vẫn có 22% DN gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục hành chính lĩnh vực thuế, như: đề nghị miễn, giảm thuế (23% DN gặp phải), hoàn thuế (18%), quyết toán thuế (17%)… Việc giảm phí, lệ phí có hiệu ứng tích cực, nhưng các quy định về thủ tục vẫn cứng nhắc, đặc biệt trong kiểm tra DN phải trả chi phí kiểm tra xét nghiệm 2-3 nơi, khiến DN phát sinh thêm nhiều chi phí.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên cả nước, theo tác giả, cần thực hiện một số giải pháp sau nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn để các DN FDI tiếp tục yên tâm đầu tư cũng như nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI tại Việt Nam:

Một là, để phòng, chống đại dịch Covid-19 hiệu quả và phát triển kinh tế, tiếp tục tiêm vắc xin phòng Covid-19 phủ rộng cho đối tượng lao động, giúp các DN FDI yên tâm sản xuất. Đồng thời, Chính phủ nên cho DN FDI thấy rõ lộ trình kế hoạch chống dịch Covid-19 và biện pháp cho từng giai đoạn. Bởi việc nhìn thấy rõ ràng kế hoạch chống dịch Covid-19 của Chính phủ sẽ hỗ trợ rất tốt về kế hoạch của DN. Hiện các chuỗi sản xuất đứt gãy đang ở trên bình diện thế giới, khu vực và rõ nhất đối với các nền sản xuất mở cửa.

Bên cạnh đó, cần có những biện pháp mở cửa an toàn cho sản xuất. Đồng thời, Chính phủ cần có những chính sách hợp lý để duy trì sản xuất, giúp DN nói chung, DN FDI nói riêng đạt được mục tiêu kinh doanh, cũng như giúp Chính phủ đạt mục tiêu quản lý.

Hai là, chú trọng đến chất lượng nguồn vốn FDI. Cụ thể, cần thu hút những dự án FDI lớn thuộc các lĩnh vực như: công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, Big Data, thành phố thông minh, nghiên cứu phát triển… Muốn thay đổi được chất lượng dự án FDI theo Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, phải đổi mới cơ bản toàn bộ hoạt động, từ xúc tiến đầu tư, xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hòa với các cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch và tính cạnh tranh cao. Ngoài ra, cần đa phương hóa, đa dạng hóa đối tác, hình thức đầu tư, đan xen lợi ích trong hợp tác đầu tư nước ngoài, kết nối hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và mục tiêu phát triển bền vững.

Ba là, bên cạnh cam kết hội nhập mạnh mẽ, Việt Nam cần tăng tốc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tái cấu trúc nền kinh tế, không thể vì dịch Covid-19 để trì hoãn cải cách kinh tế.

Bốn là, dịch Covid-19 có quy mô tính chất toàn cầu trong bối cảnh thế giới ngày càng bất định. Vì vậy, Chính phủ, bộ, ban ngành và địa phương luôn phải chia sẻ, lắng nghe DN nói chung, DN FDI nói riêng để giải quyết kịp thời những vướng mắc, phát sinh. Đây là yếu tố giúp Việt Nam giữ được việc làm, giải quyết khó khăn hậu đại dịch Covid-19. Điều đặc biệt quan trọng hiện nay là các quy định phòng, chống dịch Covid-19 phải bảo đảm thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tránh mỗi nơi làm một kiểu, gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của các DN.

Năm là, Việt Nam cần đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư công để cải thiện các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư nước ngoài trong đầu tư và thực hiện các dự án FDI.

Sáu là, các cơ quan chức năng cần tích cực, chủ động trong việc chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại, giảm thiểu tới mức tối đa các thủ tục hành chính, thời gian và chi phí tiếp cận, chi phí thực thi các quy định pháp lý và luật pháp, tạo điều kiện tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở phát triển công nghệ số, cần đa dạng hóa, tích cực, chủ động, linh hoạt trong việc xúc tiến đầu tư nước ngoài một cách có trọng tâm, trọng điểm, đảm bảo yêu cầu lựa chọn, đổi mới hình thức và nội dung thu hút FDI, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn bình thường mới./.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030

2. Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020-2021). Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2020 và 10 tháng năm 2021

3. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) (2021). Báo cáo tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với DN Việt Nam: Một số phát hiện chính từ điều tra DN 2020

4. Nhóm PV (2021). Sẵn sàng đoàn kết, chia sẻ khó khăn để cùng vượt qua đại dịch COVID-19, truy cập từ https://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=447871

5. Nguyễn Minh Phong (2021). Để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua đại dịch COVID-19…!, truy cập từ http://baochinhphu.vn/Kinh-te/De-ho-tro-doanh-nghiep-vuot-qua-dai-dich- Covid-19/445117.vgp

6. Trần Trọng Triết (2021). Giải pháp tháo gỡ vướng mắc, thu hút nguồn vốn lớn FDI trước khó khăn do COVID-19, truy cập từ https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/giai-phap-thao-go-vuong-mac-thu-hut-nguon-von-lon-fdi-truoc-kho-khan-do-covid-19-673034

ThS. Nguyễn Vũ Nhật Anh

Trường Đại học Trưng Vương

(Bài đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 32 năm 2021)

© Kinh tế và Dự báo - Bộ Kế hoạch và Đầu tư