Sẽ đánh giá kỹ tác động đối với các bậc học khác nhau để đề xuất lộ trình tăng học phí

21:47 | 04/06/2022 Print
Mức học phí, lộ trình tăng học phí phải phù hợp với tình hình cụ thể tại địa phương, chia sẻ khó khăn với người dân, khả năng đóng góp của người dân.

Tại phiên họp báo Chính phủ thường kỳ chiều hôm nay (6/5), Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn cho biết, trong phiên họp Chính phủ sáng nay, Bộ cũng được giao tiếp tục nghiên cứu để xây dựng lộ trình điều chỉnh tăng học phí, đặc biệt nghiên cứu toàn diện tác động của việc tăng học phí tới các đối tượng khác nhau, nhất là đối với học sinh sinh viên, gia đình khó khăn. Trên cơ sở đó đề xuất Chính phủ có những biện pháp hỗ trợ cần thiết.

Sẽ đánh giá kỹ tác động đối với các bậc học khác nhau để đề xuất lộ trình tăng học phí
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn cho biết, trong phiên họp Chính phủ sáng nay, Bộ cũng được giao tiếp tục nghiên cứu để xây dựng lộ trình điều chỉnh tăng học phí. Ảnh: VGP.

Khẳng định rằng, cần có đánh giá kỹ tác động đối với các bậc học khác nhau để có đề xuất phù hợp, Thứ trưởng nhấn mạnh, Bộ cũng tiếp tục có những hướng dẫn để trong khung đó, các địa phương, các cơ sở đại học theo tình hình cụ thể có điều chỉnh cho phù hợp với từng trường, từng địa phương, khả năng chi trả của người dân, nhu cầu tổ chức dạy và học trong tình hình mới.

Trước đó, năm 2021, Bộ tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định 81 quy định khung học phí của các cơ sở giáo dục công lập từ năm 2021, 2022 trở đi.

"Vào thời điểm chuẩn bị ban hành, dịch dã tương đối phức tạp, Bộ đã đề xuất và được giữ nguyên học phí năm học 2021-2022 như năm 2020-2021", ông Sơn nói.

Về khung học phí đối với các năm học tiếp theo, đối với giáo dục phổ thông thì năm 2022 khung học phí đã đưa cụ thể trong Nghị định 81.

Còn từ các năm sau, HĐND các địa phương căn cứ tình hình cụ thể về điều kiện kinh tế xã hội, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng, đặc điểm của địa phương, khả năng đóng góp thực tế của người dân… để quyết định khung học phí hoặc mức học áp dụng tại địa phương cho mầm non và giáo dục phổ thông.

"Mức này quy định không quá 7,5%/năm", Thứ trưởng nêu rõ.

Lãnh đạo Bộ GD&ĐT cũng cho biết, theo lộ trình học phí dự kiến đến năm 2025 mới tính đủ chi phí cho cấp đại học, còn đối với giáo dục mầm non và phổ thông, thì đến năm 2030 tính đủ chi phí, đã kéo dài trong chủ trương tại Nghị quyết 19 của Trung ương. Nghị định quy định khung học phí, mức trần, sàn, các địa phương quy định mức học phí theo khung học phí.

Thứ trưởng cũng nhấn mạnh, mặc dù dịch dã đã đến thời gian trở lại bình thường, nhưng việc phục hồi kinh tế xã hội cần nhiều thời gian. Tại các địa phương còn nhiều gia đình khó khăn, nên các địa phương công bố mức học phí. Còn ở các trường đại học mức độ tự chủ tài chính khác nhau.

"Bộ đã có công văn ngày 23/5 gửi các bộ, ngành, địa phương đề nghị chỉ đạo các cơ sở giáo dục trực thuộc xác định mức học phí cũng như lộ trình tăng học phí phù hợp với tình hình cụ thể tại địa phương, chia sẻ khó khăn với người dân, khả năng đóng góp của người dân", ông Sơn nói và cho biết, Bộ cũng tăng cường thanh tra kiểm tra khoản thu học phí của các cơ sở giáo dục để đảm bảo tuyệt đối không xảy ra lạm thu đầu năm học.

Theo Nghị định 81, Năm học 2022 - 2023, khung học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên được chia theo vùng. Cụ thể, vùng thành thị có mức học phí mỗi tháng từ 300 - 540 nghìn đồng/học sinh mầm non và tiểu học; cấp THCS và THPT có mức học phí từ 300- 650 nghìn đồng/học sinh. Vùng nông thôn có mức học phí mỗi tháng từ 100 - 220 nghìn đồng/học sinh mầm non và tiểu học; cấp THCS có mức học phí từ 100 - 270 nghìn đồng/học sinh; cấp THPT từ 200 - 330 nghìn đồng/học sinh. Vùng dân tộc thiểu số và miền núi có mức học phí mỗi tháng từ 50 - 110 nghìn đồng/học sinh mần non và tiểu học; cấp THCS có mức học phí từ 50 - 170 nghìn đồng/học sinh; cấp THPT từ 100-220 nghìn đồng/học sinh./.

An Nhi

© Kinh tế và Dự báo - Bộ Kế hoạch và Đầu tư