TS. Phí Thị Hồng Linh, PGS, TS. Bùi Đức Tuân

Trường Đại học Kinh tế quốc dân

ThS. Trần Văn Thành

Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một trong những mục tiêu phát triển quan trọng của các quốc gia.Ở Việt Nam, trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội đều xác định các chỉ tiêu cụ thể cho chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của từng giai đoạn. Hiện nay, Việt Nam đã bước vào những năm cuối của giai đoạn Chiến lược 2011-2020 để chuẩn bị bước sang giai đoạn chiến lược mới 2021-2030 với nhiều mục tiêu phát triển cao hơn. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là điều kiện để thực hiện các mục tiêu phát triển. Bài viết này phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho giai đoạn 2021-2030.

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, về mặt lý thuyết là chỉ tiêu đánh giá chất lượng quá trình phát triển. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế thực chất là quá trình điều chỉnh phân bố và sử dụng các nguồn lực. Do đó, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phản ánh quá trình công nghiệp hoá, khả năng thích nghi và mức độ hội nhập của quốc gia về kinh tế.

Sau hơn 30 năm đổi mới, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với khoảng 90% dân số làm nông nghiệp, cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Tuy nhiên, với những tham vọng phát triển Việt Nam trở thành một quốc gia thịnh vượng vào năm 2035 trong bối cảnh hội nhập, khoa học, công nghệ phát triển thần tốc như hiện nay, thì việc đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm có những định hướng điều chỉnh phù hợp là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị hoàn thành một giai đoạn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bước sang một giai đoạn chiến lược phát triển mới.

MỤC TIÊU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011-2020

Trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và các kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015; 2016-2020 đều đã đưa ra các mục tiêu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của cả thời kỳ Chiến lược và của từng thời kỳ 5 năm. Cụ thể như Bảng 1.

Bảng 1: Các mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đơn vị tính: %

Nguồn: Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và

Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2011-2015; 2016-2020

Qua các mục tiêu có thể thấy một số quan điểm định hướng chính về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam, như sau:

- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại: giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, tăng tỷ trọng các sản phẩm ứng dụng khoa học, công nghệ.

- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiệu quả, bền vững: giảm sản xuất mang tính gia công, tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tăng tỷ trọng công nghiệp chế tạo.

- Giảm phụ thuộc vào nước ngoài, thể hiện qua các mục tiêu giảm tốc độ tăng giá trị nhập khẩu và giảm tỷ lệ nhập siêu trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu.

THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011-2020

Kết quả thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2011-2020 như Bảng 2.

Bảng 2: Cơ cấu ngành kinh tế

Đơn vị tính: %

Nguồn: Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020,

Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020, Niên giám Thống kê

Số liệu Bảng 2 cho thấy:

(1) Cơ cấu GDP theo 3 nhóm ngành chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, ước tính đạt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra, song cơ cấu ngành kinh tế vẫn còn lạc hậu.

Đến năm 2018, tỷ trọng các ngành nông, lâm nghiệp thuỷ sản là 16,19%, công nghiệp - xây dựng là 38,08%, thương mại - dịch vụ là 45,73%. Ước tính đến năm 2020, tỷ trọng của các ngành lần lượt là 14,6%, 39,7% và 45,7%, đạt mục tiêu đặt ra theo Chiến lược 2011-2020 và Kế hoạch 2016-2020. Giai đoạn này, cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch nhanh hơn so với giai đoạn 2001-2010 (tỷ trọng nông nghiệp giai đoạn 2011-2020 giảm 7,61 điểm %, so với giai đoạn 2001-2010 chỉ giảm 2,7 điểm %).

Tuy nhiên, cơ cấu ngành kinh tế của nước ta hiện nay chỉ tương ứng với cơ cấu ngành của một số nước trong khu vực vào những năm 80 của thế kỷ trước (năm 1990, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm trong GDP của Philippines, là 21,9%; Indonesia19,4%; Malaysia 15,2%; Thái Lan 12,5%). Với tốc độ giảm tỷ trọng nông nghiệp hàng năm như hiện nay thì Việt Nam phải mất 10 năm mới bằng Philippines, 13 năm mới bằng Thái Lan, 15 năm mới bằng Trung Quốc, 23 năm mới bằng Hàn Quốc về tỷ trọng khu vực nông nghiệp của các nước này hiện nay.

So với bình quân của các nước có thu nhập trung bình thấp, thì tỷ trọng nông nghiệp của Việt Nam cũng cao hơn, nhưng tỷ trọng công nghiệp thấp hơn (theo dữ liệu của Ngân hàng thế giới, tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của các nước có thu nhập trung bình năm 2017 lần lượt là 15%, 44% và 41%).

(2) Tỷ trọng nông nghiệp giảm, đạt mục tiêu kế hoạch, nhưng sản xuất nông nghiệp thiếu bền vững, biểu hiện qua những điểm sau:

(i) Tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp giảm, chậm hơn so với các giai đoạn trước, bình quân năm giai đoạn 2016-2020, ước tính là 2,94%/năm, tính chung giai đoạn 2011-2020 là 2,89%/năm, thấp hơn so với giai đoạn 2001-2010 (3,6%/năm). Như vậy, tỷ trọng nông nghiệp giảm không hoàn toàn do sự tăng trưởng nhanh hơn của khu vực công nghiệp và dịch vụ, mà còn do sự sụt giảm tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2020.

(ii) Tăng trưởng của khu vực nông nghiệp không ổn định, tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2020 có một số năm không đạt được mục tiêu tăng trưởng đặt ra (năm 2015 và 2016), nhưng lại có những năm vượt khá nhiều so với mục tiêu (năm 2017, 2018). Sản lượng nông nghiệp biến động bên cạnh các nguyên nhân về điều kiện khí hậu, thời tiết, sâu bệnh còn do vấn đề trong quy hoạch sản xuất, tình trạng người dân sản xuất không theo quy hoạch vẫn diễn ra phổ biến.

(iii) Giá nông sản biến động lớn, có năm khu vực nông nghiệp đạt và vượt kế hoạch đặt ra về mục tiêu tăng trưởng, nhưng không đạt mục tiêu về tỷ trọng trong cơ cấu ngành kinh tế (năm 2017), cho thấy bên cạnh biến động về sản lượng, giá cả hàng hóa nông sản cũng rất biến động. Giá nông sản biến động do nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có nguyên nhân quan trọng là do khâu tiêu thụ sản phẩm, liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp chế biến còn hạn chế, phần lớn nông sản được thu mua bởi thương lái chính, vì vậy việc tiêu thụ nông sản gặp rất nhiều rủi ro.

(3) Tỷ trọng toàn ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng lên song chưa đạt được mục tiêu kế hoạch, sản xuất công nghiệp vẫn mang tính gia công và phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Thể hiện qua những điểm sau:

(i) Tỷ trọng công nghiệp xây dựng tăng và đạt được mục tiêu kế hoạch giai đoạn 2016-2020 (ước tính đến năm 2020, tỷ trọng công nghiệp đạt 39,7%), nhưng tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo không đạt mục tiêu. Giai đoạn 2011-2020 tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo/GDP năm 2018 chỉ đạt 17,8%, ước tính năm 2020 khoảng 20% trong tổng GDP của toàn nền kinh tế thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu kế hoạch 2016-2020 đặt ra là 25%.

(ii) Sản xuất công nghiệp vẫn mang tính gia công, thể hiện:

- Chỉ số sản xuất công nghiệp cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP của công nghiệp (bình quân giai đoạn 2011-2020, chỉ số sản xuất công nghiệp là 7,8%/năm, tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp là 7,2%/năm);

- Chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian thấp hơn so với chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ sử dụng cuối cùng (năm 2016 sản phẩm trung gian tăng 5%; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 9,1%, năm 2018, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian tăng 9%, sản phẩm phục vụ sử dụng cuối cùng tăng 11%). Số liệu đó cho thấy, sản xuất công nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào sản phẩm trung gian nhập khẩu, công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng tốt nhu cầu.

(iii) Xét trong nội bộ ngành công nghiệp (không kể xây dựng), tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP công nghiệp cũng tăng khá chậm. Từ 57,93% năm 2015 lên 59,55% năm 2018. Tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP công nghiệp tăng lên phần lớn là do tỷ trọng của ngành khai khoáng giảm (giảm theo kế hoạch).

(iv) Sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo của khu vực nước ngoài chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt ở một số mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chính như điện thoại các loại và linh kiện; máy tính, sản phẩm điện tử, hàng dệt và may mặc. Chính vì vậy, khi sản xuất của khu vực này giảm đã làm giảm chỉ số sản xuất của công nghiệp chế biến, chế tạo (năm 2018).

(4) Các ngành dịch vụ truyền thống (thương mại, vận tải) vẫn chiếm tỷ trọng cao, một số ngành dịch vụ hiện đại còn có xu hướng giảm về tỷ trọng.

Cụ thể, các ngành dịch vụ truyền thống như thông tin truyền thông (giảm từ 0,78% năm 2015 còn 0,76% năm 2018); Hoạt động tài chính và ngân hàng (6,1 năm 205 còn 5,93% năm 2018); Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (giảm từ 1,48% năm 2015 còn 1,39% năm 2018).

(5) Chuyển dịch cơ cấu lao động nhanh hơn so với chuyển dịch GDP, nhưng chưa hiệu quả, thể hiện qua những điểm sau:

- Giai đoạn 2011-2020, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 48,4% năm 2011 đến năm 2018 còn 38,1%, ước tính năm 2020 còn khoảng dưới 35%, đạt mục tiêu chiến lược 2011-2020 (30-35%) cũng như kế hoạch 2016-2020 (40%).

- Tỷ trọng lao động tăng lên chủ yếu ở 3 nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng và bán buôn, bán lẻ. Trong đó, lao động dịch chuyển nhiều nhất sang ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nhưng do ngành này sản xuất vẫn mang tính chất gia công, năng suất lao động không cao, nên mặc dù tăng nhanh về tỷ trọng lao động, nhưng tỷ trọng GDP của ngành này vẫn không đạt được mục tiêu kế hoạch. Bên cạnh đó, tỷ trọng lao động tăng lên ở các ngành xây dựng và bán buôn bán lẻ cũng cho thấy xu hướng chuyển dịch lao động, cũng chưa theo hướng hiện đại, lao động vẫn chủ yếu chuyển dịch sang các ngành truyền thống, gia tăng không cao.

Như vậy, có thể thấy cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu ngành chưa theo hướng hiện đại, sản xuất vẫn mang tính gia công và phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu và phụ thuộc vào khu vực nước ngoài.

Nhận định này cũng được khẳng định rõ ràng khi xem xét cơ cấu hàng hóa xuất - nhập khẩu (Bảng 3).

Bảng 3: Xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2011-2020

Đơn vị tính: Tỷ USD, %

Nguồn: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020,

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020, Niên giám Thống kê các năm

Bảng 3 chỉ ra rằng, cán cân thương mại được cải thiện, đạt được trạng thái xuất siêu, nhưng là do khu vực nước ngoài, nhập khẩu hàng hóa trung gian vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tình trạng xuất siêu ngày càng tăng, từ 1,6 tỷ USD năm 2016 lên 7,2 tỷ USD năm 2018, tỷ lệ suất siêu/giá trị hàng hóa xuất khẩu cũng tăng, từ 0,9% năm 2016 lên 2,9% năm 2018, vượt chỉ tiêu kế hoạch đặt ra. Tổng 3 năm 2016-2018 xuất siêu hàng hóa đạt 11,7 tỷ USD, bằng 1,85/% giá trị xuất khẩu, uớc tính hết năm 2020 vượt kế hoạch đặt ra giai đoạn 2016-2020 (nhập siêu 10,2 tỷ USD, chiếm 2,3% giá trị xuất khẩu hàng hóa). Tuy nhiên:

(i) Xuất siêu là do khu vực nước ngoài: Trong 2,7 tỷ USD xuất siêu năm 2017, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 26,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 28,8 tỷ USD; trong 7,2 tỷ USD xuất siêu năm 2018, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,8 tỷ USD.

(ii) Xuất khẩu chủ yếu cũng là do khu vực nước ngoài:

- Theo khu vực kinh tế, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2011 là 56,9%; năm 2017 là 72,5%; năm 2018 là 71,7%; tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2001-2010 (từ 45,2% lên 54,2%).

- Theo mặt hàng xuất khẩu, tỷ trọng xuất khẩu hàng thô hoặc sơ chế có xu hướng giảm (từ 34,8% năm 2011 còn 16,3% năm 2017, ước tính còn 15,2% năm 2018), tỷ trọng giá trị hàng hóa xuất khẩu đã chế biến hoặc tinh chế có xu hướng tăng (từ 65,1% năm 2011 lên 83,6% năm 2017, 84,8% năm 2018). Trong đó, nhóm hàng có tỷ trọng xuất khẩu cao nhất đồng thời cũng là nhóm hàng có tốc độ tăng tỷ trọng nhanh nhất là máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng (từ 37,3% năm 2015 đã tăng lên trên 44,6% năm 2018, ước tính đến năm 2020 đạt trên 45%). Tuy nhiên, xét trong cơ cấu hàng đã chế biến hoặc tinh chế xuất khẩu năm 2018, khu vực FDI chiếm phần lớn, trong đó cụ thể ở một số mặt hàng chủ lực, như: điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,1%.

(iii) Cơ cấu nhập khẩu cũng chủ yếu là của khu vực nước ngoài và hàng hóa tư liệu sản xuất nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

Theo khu vực kinh tế, cũng tương tự như cơ cấu xuất khẩu, tỷ trọng nhập khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài cũng tăng lên và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu, từ 45,3% năm 2011 lên 59,9% năm 2017, 60,1% năm 2018, nhanh hơn so với giai đoạn 2001-2010 (tăng từ 30,7% năm 2001 lên 43,6% năm 2010).

Theo mặt hàng nhập khẩu, tỷ trọng nhập khẩu của nhóm hàng tư liệu sản xuất vẫn còn cao, chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu hàng hóa. Mặc dù bắt đầu có sự thay đổi trong cơ cấu giá trị hàng hóa xuất khẩu, tỷ trọng nguyên nhiên vật liệu đã giảm trong tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu so với giai đoạn 2011-2015. Tuy nhiên, nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng lại cao hơn nhiều so với giai đoạn 2011-2015. Vì vậy, tỷ trọng nhập khẩu của nhóm hàng hóa tư liệu sản xuất vẫn còn rất cao (trên 90% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu). Điều này cho thấy, sản xuất trong nước vẫn chủ yếu là gia công.

Như vậy, với cơ cấu xuất nhập khẩu như trên có thể thấy kinh tế Việt Nam ngày càng bị phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, sản xuất trong nước vẫn chủ yếu là gia công.

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH

Mặc dù một số mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu đã được hoàn thành theo kế hoạch và chiến lược đặt ra, như: chỉ tiêu về chuyển dịch cơ cấu GDP của 3 nhóm ngành kinh tế, chỉ tiêu về cơ cấu lao động. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều bất cập, cụ thể là:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, một số chỉ tiêu kế hoạch chưa hoàn thành đặt ra đó là: tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa theo hướng hiện đại: Tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn cao (cao hơn các nước trong khu vực và trung bình của các nước có thu nhập trung bình thấp). Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thấp.

- Chuyển dịch cơ cấu ngành chưa theo hướng hiệu quả, chưa bền vững: sản xuất nông nghiệp thiếu bền vững, sản xuất công nghiệp vẫn mang tính gia công, hàng hóa trung gian chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch nhập khẩu.

- Nền kinh tế vẫn bị phụ thuộc khá nhiều vào nước ngoài, tỷ trọng kim ngạch xuất - nhập khẩu của khu vực nước ngoài tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu; hàng hóa trung gian nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu; khu vực trong nước vẫn bị nhập siêu; sản xuất trong nước phụ thuộc vào hàng hóa trung gian nhập khẩu.

Nguyên nhân của những bất cập nêu trên có thể chỉ ra là:

- Sản xuất nông nghiệp còn tự phát, nhỏ lẻ, chưa theo quy hoạch, liên kết trong sản xuất nông nghiệp còn yếu. Chuỗi giá trị của nhiều sản phẩm nông nghiệp chưa được hình thành dẫn tới đầu ra của sản phẩm nông nghiệp gặp nhiều rủi ro. Giá nông sản không ổn định do bị phụ thuộc vào thương lái làm cho sản lượng nông sản cũng biến động.

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa phát triển dẫn tới sản xuất công nghiệp phải phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên, nhiên liệu. Chính vì vậy, sản xuất trong nước gặp bất lợi khi giá cả thế giới biến động tăng làm tăng chi phí sản xuất trong nước, giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

- Trình độ thiết kế, chế tạo trong lĩnh vực cơ khí còn thấp, chưa chủ động để sản xuất được nhiều sản phẩm có giá trị và có hàm lượng công nghệ cao.

- Sản xuất công nghiệp chưa tham gia được nhiều vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

- Tình trạng thiếu vốn và các rào cản tài chính gây khó khăn cho các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo. Do phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy mô vốn ít, dẫn tới khó khăn trong việc tiếp nhận công nghệ có giá trị cao. Đồng thời, phần lớn các doanh nghiệp này lại yếu kém về công nghệ, quản trị kinh doanh, quản lý sản xuất nên lợi nhuận thấp, nhưng lại suất cho vay cao, dẫn tới doanh nghiệp không dám vay.

ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2021-2030

Theo mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đã được xác định trong Đại hội Đảng toàn quốc các khóa XI, XII, mô hình tăng trưởng mới phải theo hướng nâng cao chất lượng bằng cách dựa vào tăng năng suất, tăng cường ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo. Như vậy, định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn tiếp tục theo 3 định hướng chính: hiện đại; hiệu quả, bền vững và giảm phụ thuộc vào nước ngoài.

Căn cứ vào mục tiêu Việt Nam thịnh vượng 2035, Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao, vì vậy, các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế giai đoạn đến 2030 phải tương đương với các nước có thu nhập trung bình.

Từ đó, nhóm nghiên cứu dự báo các chỉ tiêu cơ bản về cơ cấu ngành kinh tế đến năm 2025 và 2030 như Bảng 4.

Bảng 4: Dự báo các chỉ tiêu cơ bản về cơ cấu ngành kinh tế đến năm 2025 và 2030

Nguồn: Nhóm tác giả

Từ mục tiêu dự báo như trên, một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn 2021-2030 là: Tỷ trọng của công nghiệp tăng nhanh (0,52%-0,56%/năm giai đoạn 2021-2025 và 0,4-0,5%/năm giai đoạn 2026-2030); Tỷ trọng nông nghiệp giảm 0,62-0,68% /năm giai đoạn 2021 -2025 và 0,56 - 0,64%/năm giai đoạn 2026-203. Song, để tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp, cần dựa trên cơ sở đẩy mạnh tăng trưởng cả nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ. Thế nhưng, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp phải nhanh hơn, trong đó cần phải tập trung phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

Để đạt được các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế như trên, một số định hướng giải pháp cơ bản cần thực hiện, bao gồm:

Về phát triển công nghiệp hỗ trợ:

- Hình thành và phát triển các trung tâm công nghiệp hỗ trợ, các khu công nghiệp hỗ trợ. Hình thành và bổ sung các ưu đãi đầu tư cơ sở hạ tầng cho các trung tâm, các khu công nghiệp hỗ trợ.

- Có chính sách hỗ trợ, chính sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ: rà soát hành lang pháp lý, đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

- Kết nối hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước.

- Xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.

Về tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất:

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, chủ động tiếp quản các thành quả của Cách mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0 nhằm cơ cấu lại thực chất ngành công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh nông, lâm, thủy sản, công nghiệp chế tạo; tăng năng suất nội bộ ngành, tăng hàm lượng công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; định hình lại công nghiệp chế tạo trong tương lai, nâng cao hiệu quả phát triển công nghiệp. Định hướng cho việc giải quyết thách thức trong nội tại các ngành công nghiệp chế tạo mà CMCN 4.0 mang lại.

- Tiếp tục tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nền nông nghiệp đổi mới và sáng tạo để vừa đón đầu và nắm bắt được các thành tựu của nền nông nghiệp 4.0, phát huy được các tác động tích cực của nông nghiệp 4.0 vừa điều chỉnh để hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của sự thay đổi này. Tập trung đầu tư vào đổi mới và sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao các công nghệ phù hợp tạo ra chuỗi giá trị nông sản thực phẩm bền vững.

- Có chính sách hỗ trợ và cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, trang trại và nông dân: Hỗ trợ và cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, trang trại và nông dân trong phát triển và ứng dụng công nghệ 4.0 ở tất cả các lĩnh vực trong chuỗi nông sản thực phẩm; Có các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho DN để phát triển sản phẩm mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ phát triển, bảo vệ tài sản trí tuệ phát triển.

- Khuyến khích khởi nghiệp và đổi mới, tích hợp các xu hướng và thành tựu của Cách mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0 vào nội dung chương trình giáo dục, đào tạo và hướng nghiệp để có lực lượng lao động có khả năng tiếp cận, phát triển và ứng dụng được các thành quả nền nông nghiệp 4.0.

- Từng bước đổi mới lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề theo hướng chuyển đổi số, tạo và bổ sung để phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng phù hợp, có thể tiếp thu và làm chủ công nghệ thời kỳ CMCN 4.0.

Về quy hoạch sản xuất nông nghiệp: Cần tháo gỡ những vướng mắc và thừa nhận thị trường đất đai, nhất là đất nông nghiệp để tạo điều kiện cho nông nghiệp hàng hóa phát triển, khắc phục tình trạng manh mún như hiện nay.

Về tăng cường liên kết trong sản xuất:

- Tiếp tục nỗ lực xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ người dân, doanh nghiệp; nỗ lực tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hiệu quả hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu và đóng vai trò dẫn dắt trong các chuỗi giá trị nội địa./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020

2. Quốc hội (2011). Nghị quyết số 10/2011/QH13, ngày 08/11/2016 về Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015

3. Quốc hội (2016). Nghị quyết số 142/2016/QH13, ngày 12/04/2016 về Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới (2016). Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ

5. Tổng cục Thống kê (2011-2019). Niên giám Thống kê các năm, từ 2010-2018, Nxb Thống kê, Hà Nội

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 4 tháng 01/2020)