Trần Văn Hùng, Đào Thúy Em

Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh

TÓM TẮT:

Dựa trên nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, bài viết đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng trên 3 phương diện chính, gồm: Dịch vụ tiền gửi; Dịch vụ cho vay; và Dịch vụ thanh toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Việt Nam đã có sự phát triển mạnh về hoạt động dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, so với các quốc gia trong khu vực, thì dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam vẫn còn ở mức thấp và có những hạn chế nhất định. Trên cơ sở đó, bài viết nêu một số đề xuất kiến nghị góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống tài chính ở nước ta.

Từ khóa: đánh giá, dịch vụ, ngân hàng, thực trạng

GIỚI THIỆU

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự gia tăng mạnh của dân số nước ta đã kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng gia tăng của người dân. Nhằm phát triển hệ thống ngân hàng nói chung và các dịch vụ ngân hàng nói riêng, nhiều văn bản đã được ban hành. Có thể kể đến, như: Quyết định số 1726/QĐ-TTg, ngày 05/09/2016 về phê duyệt Đề án Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế; Quyết định số 986/QĐ-TTg, ngày 08/08/2018 phê duyệt Chiến lược Pphát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 34/QĐ-NHNN, ngày 07/01/2019 về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030...

Với định hướng đúng đắn trên đã tạo điều kiện cho dịch vụ ngân hàng phát triển mạnh với nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Hệ thống tín dụng ngày càng hoàn thiện và cung cấp cho người dân dựa trên cơ sở hiệu quả hoạt động của phương án kinh doanh. Các sản phẩm tiết kiệm được phát triển ngày một đa dạng, hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt được thúc đẩy mạnh và các tổ chức tín dụng được cơ cấu theo hướng hoàn thiện và chất lượng dịch vụ ngân hàng được nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Do đó, sự phát triển của dịch vụ ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống tài chính nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực phát triển của hệ thống dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam hiện nay nhằm có cơ sở đề xuất một số kiến nghị góp phần phát triển dịch vụ ngân hàng trong thời gian tới là cần thiết.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo của các cơ quan, như: Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia... Bên cạnh đó, nhóm tác giả sử dụng kết hợp với các phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh, thống kê mô tả để đưa ra những phân tích, nhận định về thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

Căn cứ theo Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2020, thực trạng phát triển của dịch vụ ngân hàng được thể diện trên 3 phương diện sau:

(1)Phương diện dịch vụ tiền gửi

Trong những năm vừa qua, nguồn vốn huy động tăng trưởng ổn định và đạt bình quân 17%/năm. Riêng năm 2018, nhờ sự điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, nên nguồn vốn huy động đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Theo số liệu báo cáo năm 2018 của Ủy Ban Giám sát Tài chính Quốc gia, nguồn vốn huy động toàn hệ thống ngân hàng tăng tương đương năm 2017, tức tăng 16,9%. Hệ số dư nợ trên vốn huy động LDR tăng 87,5%, năm 2017 là 87,8%; tiền gửi khách hàng (gồm tổ chức kinh tế và dân cư) đạt 4,8 triệu tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2017. Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá tăng mạnh (ước tăng 38%) do một số tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá nhằm tăng vốn cấp 2 để cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR) và cơ cấu lại kỳ hạn nguồn vốn huy động. Trong khi đó, vốn huy động bằng VND tăng 14,3%, chiếm 90,5% tổng vốn huy động (năm 2017 là 90,5%). Huy động bằng ngoại tệ tăng 21%, chiếm tỷ trọng khoảng 9,5% (năm 2017 là 9,5%), tỷ giá USD/VND ổn định, tâm lý găm giữ ngoại tệ giảm. Vốn huy động có kỳ hạn chiếm 80,9% tổng huy động (năm 2016 chiếm 79,7%), còn lại là vốn huy động không kỳ hạn.

Bảng 1: Tình hình huy động vốn của hệ thống ngân hàng năm 2018

Nguồn: Báo cáo của Ủy Ban Giám sát Tài chính Quốc gia

(2) Phương diện dịch vụ cho vay

Hoạt động cho vay có sự tăng trưởng mạnh trong những năm vừa qua và được thể hiện qua sự phát triển mạnh của các tổ chức tín dụng, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng. Theo số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 30/06/2019, cả nước có 49 ngân hàng, 26 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 4 tổ chức tài chính vi mô, 1183 quỹ tín dụng nhân dân, 49 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và 50 văn phòng đại diện các tổ chức tín dụng nước ngoài (Bảng 2). Trong đó, các điểm giao dịch ngân hàng vẫn được mở rộng trong những năm vừa qua nhằm đáp ứng yêu cầu giao dịch của khách hàng. Tuy nhiên, hiện nay, các điểm giao dịch ngân hàng tập trung phổ biến ở các thành phố lớn, vùng nông thôn, vùng sâu xa lại rất hạn chế do hiệu quả hoạt động của các chi nhánh, phòng giao dịch ở vùng nông thôn khó theo kịp so với ở thành thị.

Bảng 2: Hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam tính đến ngày 30/06/2019

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Về nguồn vốn cho vay

Trước năm 2010 Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân cao so với thế giới, gần 32% cao hơn so với tốc độ tăng GDP cùng thời kỳ khoảng 17%. Sự tăng mạnh về vốn đầu tư vào Việt Nam từ năm 2005 đến 2007, dẫn tới tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt mức cao, khoảng 51% vào năm 2007. Hậu quả là, tỷ lệ lạm phát trong năm 2007-2008 tăng cao, so với năm 2007 tốc độ tăng giá tiêu dùng năm 2008 là 19,89%.

Đến năm 2012, với mục tiêu tập trung kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN, ngày 13/02/2012 về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2012, nhằm định hướng cho điều hành chính sách tiền tệ ngay từ đầu năm. Cụ thể, các tổ chức tín dụng được phân loại vào bốn nhóm dựa trên đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng: nhóm 1, 2, 3, 4 lần lượt được phép tăng trưởng tín dụng tối đa 17%, 15%, 8% và không tăng trưởng. Việc giao chỉ tiêu tín dụng cho từng tổ chức tín dụng được thay bằng phân bổ chỉ tiêu cào bằng cho toàn ngành như những năm trước đây. Điều này đã giúp cho các tổ chức tín dụng định hướng tốt hơn cho hoạt động tín dụng. Kết quả, năm 2012 tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 8,85%, đây là mức thấp nhất trong những năm vừa qua. Đạt được kết quả này là nhờ các biện pháp định hướng, kiểm soát tăng trưởng tín dụng và có sự linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng đối với các nhóm tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Năm 2013 và 2014, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt chỉ tiêu định hướng đề ra. Ngân hàng Nhà nước đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết tiền tệ phù hợp, các chương trình, chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực đã được hệ thống ngân hàng triển khai kịp thời, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

Năm 2015, dư nợ tín dụng nền kinh tế tăng 18,8% so với cuối năm 2014. Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đồng thời bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng. Qua năm 2016 và 2017, cơ cấu tín dụng diễn biến tích cực theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng, tập trung chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản chậm lại. Tín dụng VND tăng cao trong khi tín dụng ngoại tệ tăng thấp, phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ.

Đến năm 2018, mức tăng trưởng đạt 14%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đã đề ra là 17%. Song, cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, trong đó tín dụng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát ở mức hợp lý. Riêng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn bình quân giảm xuống còn 28,7% (năm 2017: 30,4%). Các ngân hàng thương mại chủ động cơ cấu lại kỳ hạn huy động và cho vay để đáp ứng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn dưới 40% từ ngày 01/01/2019. Nhìn chung, giai đoạn 2012-2018, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt bình quân 15,84%/năm (Bảng 3).

Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam giai đoạn 2012-2018

Nguồn: Ủy Ban Giám sát Tài chính Quốc gia

Như vậy, tăng trưởng tín dụng trong những năm vừa qua đã đạt mức mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, để giữ được mức tăng trưởng này, cũng như chất lượng tăng trưởng tín dụng trong những năm tiếp theo là vấn đề đang được quan tâm. Bên cạnh đó, tốc độ tín dụng trong những năm qua tăng gần gấp ba lần so với tốc độ tăng GDP danh nghĩa. Điều này cũng cho thấy, tăng trưởng tín dụng nhanh chóng sẽ tăng mức huy động nợ trong nền kinh tế, trong bối cảnh quan ngại về chất lượng tài sản và nợ xấu ngày càng tăng.

(3) Dịch vụ thanh toán

Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tiền tệ ngân hàng cùng với sự phát triển của công nghệ đã giúp cho các tổ chức tài chính ứng dụng, triển khai những công nghệ mới nhất trong hoạt động kinh doanh nói chung, dịch vụ thanh toán nói riêng, đặc biệt về dịch vụ internet, dịch vụ qua thiết bị di động, dịch vụ thẻ. Tính đến hết quý I/2019, Việt Nam có 76 ngân hàng cung cấp dịch vụ qua internet banking, 44 ngân hàng có dịch vụ mobile banking, 16 ngân hàng triển khai QR code và hơn 30.000 điểm chấp nhận thanh toán phi tiền mặt.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã cấp phép cho 30 đơn vị trung gian thanh toán để có thể hỗ trợ cho các khách hàng tham gia thanh toán online, phục vụ thanh toán điện tử. Một số ngân hàng thương mại Việt Nam đã chủ động đầu tư, ứng dụng các giải pháp công nghệ thanh toán mới, hiện đại, như: xác thực vân tay, sinh trắc, sử dụng mã QR code, thanh toán phi trực tiếp… để mang lại tiện lợi và an toàn trong giao dịch thanh toán điện tử. Nhờ đó, dịch vụ thanh toán ngân hàng đã phát triển mạnh ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến hết quý I/2019 Việt Nam có gần 270.000 thiết bị chấp nhận thẻ, 30.000 điểm chấp nhận mã phản hồi nhanh QR code, đã có 16 ngân hàng triển khai dịch vụ QR code, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần, từ 14,02% năm 2010 xuống còn khoảng 10% hiện nay. Tỷ lệ người dân 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng thương mại đạt 37,81% trong tổng dân số vào năm 2018, tăng 4 lần so với năm 2010. Số lượng thẻ do các ngân hàng thương mại phát hành cũng tăng lên nhanh, đến hết quý II/2019, cả nước đạt 164 triệu thẻ các loại, trong đó có khoảng gần 9% là thẻ tín dụng quốc tế.

Biểu đồ: Số lượng máy ATM của Việt Nam so với các nước trong khu vực

Nguồn: Cơ sở dữ liệu Worldbank

Tuy nhiên, dịch vụ thanh toán ngân hàng ở Việt Nam vẫn còn thấp so với các quốc gia trong khu vực. Về chỉ tiêu số lượng máy ATM/100.000 người lớn cho thấy, khả năng tiếp cận thị trường tiền tệ - ngân hàng ở Việt Nam tương đối thấp (25,28 máy ATM/100.000 người lớn) so với các nước trong khu vực (66,46 ở Singapore; 46,63 ở Malaysia và 54,72 ở Indonesia). Cụ thể được trình bày ở Biểu đồ.

KẾT LUẬN

Hoạt động dịch vụ ngân hàng của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực, như: Dịch vụ tiền gửi; Dịch vụ cho vay và Dịch vụ thanh toán, góp phần tích cực phát triển dịch vụ tài chính toàn diện nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của Việt còn thấp khi so với các quốc gia trong khu vực. Trên cơ sở đó, để nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Về dịch vụ tiền gửi. Các tổ chức tín dụng thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, hấp dẫn, mức lãi suất huy động phải cao hơn lạm phát để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền. Đồng thời, cần đa dạng hóa hình thức huy động vốn thông qua các sản phẩm, dịch vụ cung ứng.

Về dịch vụ cho vay. Các tổ chức tín dụng cần nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ cho vay cho người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp thông qua hoạt động, như: mở rộng đối tượng cho vay, mở rộng chính sách ưu đãi cho vay, đa dạng các sản phẩm cho vay, đơn giản hóa quy trình cấp tín dụng, thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt... Đồng thời, tăng cường hoạt động quảng bá, tiếp thị tạo điều kiện cho khách hàng nắm bắt thông tin hoạt động cho vay.

Về dịch vụ thanh toán. Ngân hàng Nhà nước tập trung hoàn thiện quy định nhà nước về an ninh, an toàn trong dịch vụ thanh toán, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, bảo mật thông tin, tăng cường kiểm tra giám sát công tác thanh toán thẻ, đẩy mạnh truyền thông về bảo mật, cảnh giác và cẩn trọng ở khách hàng.

Các tổ chức tín dụng nói chung cần đầu tư hệ thống công nghệ thông tin và cùng với đội ngũ nhân sự giỏi để có thể tiếp cận các dịch vụ thanh toán đa dạng theo nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, cũng như dễ dàng ghi nhận, xử lý sự cố rủi ro, quản trị và phòng ngừa rủi ro trong các giao dịch thanh toán.

Khuyến khích người dân sử dụng hệ thống thanh toán điện tử, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2010). Luật Các tổ chức tín dụng, số 47/2010/QH12, ngày 16/06/2010

2. Quốc hội (2010). Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, số 17/2017/QH14, ngày 20/11/2017

3. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1726/QĐ-TTg, ngày 05/09/2016 về phê duyệt Đề án Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế

4. Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 986/QĐ-TTg, ngày 08/08/2018 phê duyệt Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

5. Ngân hàng Nhà nước (2019). Quyết định số 34/QĐ-NHNN, ngày 07/01/2019 về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

6. Ngân hàng Nhà nước (2019). Báo cáo tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

7. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (2012-2018). Tình hình huy động vốn của hệ thống ngân hàng các năm, từ 2012 đến 2018

8. Worldbank (2017). Financial inclusion overview, access to https://www.worldbank.org/en/topic/financialinclusion/overview

Summary

Based on secondary data collected from the National Financial Supervisory Commission, The paper assesses the current situation of banking service development in three main aspects including the aspect of deposit services, credit services and payment services. The research results show that Vietnam has experienced a strong development in banking services, In particular, people have access to increased deposits and lending services at banks, the payment system of the system is increasingly innovative thanks to technological advances and has met the needs of people and enterprise. However, compared to other countries in the region, banking services in Vietnam are still low and have certain limitations. On that basis, the article presents a number of recommendations to improve the accessibility of banking services, and contribute to the development of the financial system in our country.

Keywords: evalute, services, banking, current situation

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo 6 tháng 2/2020