Ma Thị Hằng

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) vừa chính thức được Nghị viện châu Âu thông qua vào ngày 12/02/2020 và dự kiến có hiệu lực vào tháng 07/2020. Sự kiện này tạo điều kiện thương mại thuận lợi hơn cho nông sản xuất khẩu (XK) của Việt Nam sang EU. Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu thực trạng XK hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường EU thời gian qua, đồng thời phân tích những thuận lợi và khó khăn của XK hàng nông sản khi EVFTA có hiệu lực. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để khai thác tối đa các lợi thế của EVFTA nhằm đẩy mạnh XK hàng nông sản Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian tới.

THỰC TRẠNG XK HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU GIAI ĐOẠN 2007-2017

Trong giai đoạn 2007-2017, XK hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường EU đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ. Số liệu ở Bảng cho thấy, kim ngạch XK hàng nông sản đã tăng 2,2 lần, từ mức 1.457 triệu USD năm 2007 lên 3.177 triệu USD vào năm 2017.

Bảng: Kim ngạch XK một số nông sản chính của Việt Nam vào thị trường EU giai đoạn 2007-2017

* Chỉ số này tính toán tỷ trọng XK của 5 nhóm hàng nông sản trên so với tổng kim ngạch XK hàng nông sản của Việt Nam vào EU

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của UN Comtrade

Đặc biệt, thị trường EU rất ưa chuộng một số nông sản truyền thống của Việt Nam, như: cà phê, trái cây và các loại hạt. Cà phê luôn là nhóm hàng XK hàng đầu vào thị trường EU với tỷ trọng XK hàng năm đều duy trì ở mức gần 50%. Đứng ở vị trí thứ hai là trái cây, đặc biệt, tỷ trọng XK nhóm hàng này liên tục gia tăng từ năm 2012 đến nay.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, XK hàng nông sản nước ta vào thị trường EU còn một số hạn chế. Theo đó, nước ta chủ yếu XK nông sản thô, chưa qua chế biến, công nghệ sản xuất lạc hậu. Chẳng hạn, với mặt hàng cà phê, phần lớn cà phê XK vào EU là cà phê chưa rang. Trong 5 năm gần đây (2012-2017), tỷ trọng XK của loại cà phê này đều dao động ở mức 96% (tính toán của tác giả từ UN Comtrade). Kết quả cho thấy, giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp, lợi nhuận thu được từ XK không nhiều.

Bên cạnh đó, chất lượng hàng nông sản Việt Nam chưa cao. Đây chính là rào cản lớn nhất của XK nước ta vào thị trường EU hiện nay. Theo chúng tôi, nguyên nhân chính của tình trạng này là do ngành nông sản chưa xây dựng thành công chuỗi sản xuất sản phẩm. Do vậy, tất cả các khâu sản xuất, từ chọn giống, khoanh vùng nguyên liệu đến chế biến, bảo quản và bán hàng đều chưa đảm bảo. Thậm chí, một số doanh nghiệp (DN) XK chỉ vì lợi nhuận trước mắt mà sẵn sàng gian lận. Nhiều đối tác thương mại lớn đã từng trả lại sản phẩm cho Việt Nam do không đạt tiêu chuẩn. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, tại thị trường Nhật Bản, năm 2018 có đến 48 vụ việc sản phẩm nông sản của Việt Nam sau khi kiểm dịch đã bị trả về. Lý do là tồn dư hoạt chất bị cấm hoặc các thuốc bảo vệ thực vật có hàm lượng cao hơn mức cho phép. Trong năm 2019, cơ quan chức năng Nhật Bản và hệ thống cảnh báo nhanh của EU liên tiếp phát hiện nhiều lô hàng nông sản của Việt Nam, như: thanh long, rau gia vị, nấm, thủy sản… còn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật quá mức cho phép (Mai Hiền, 2019). Những vụ việc này khiến cho nông sản Việt Nam mất uy tín nghiêm trọng. Hậu quả là, DN chịu thua thiệt về giá cả và sự quan tâm của khách hàng ngay trong thị trường nội địa chứ chưa xét đến thế giới. Do vậy, nâng cao chất lượng hàng nông sản, xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt là hết sức cần thiết.

NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TỪ EVFTA

Cơ hội mở ra

Một là, cơ hội mở rộng thị trường, thâm nhập chuỗi giá trị toàn cầu

Thông qua EVFTA, nông sản có cơ hội tiến sâu hơn vào thị trường EU với khoảng 508 triệu dân và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 18.000 tỷ USD; các DN nông nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp cận, tiến hành trao đổi mua bán với những thị trường khác có thỏa thuận thương mại tự do với EU.

Bởi, XK hàng nông sản sẽ vô cùng thuận lợi vào thị trường EU khi được EVFTA có hiệu lực sẽ xóa bỏ hơn 99% số dòng thuế theo lộ trình. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), khi EVFTA có hiệu lực, gần như toàn bộ 100% biểu thuế và kim ngạch XK của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình 7 năm. Cụ thể, có đến 70,3% dòng thuế về 0% ngay và đạt đến 99,7% dòng thuế về mức 0% sau 10 năm sau đó. Theo đó, nhiều mặt hàng của Việt Nam sẽ được giảm thuế về 0% như các sản phẩm từ hạt... Đối với mặt hàng rau củ quả, EU cũng cam kết xóa bỏ thuế khi EVFTA có hiệu lực. Đối với thủy sản, khoảng 50% số dòng thuế sẽ được xóa bỏ, 50% dòng thuế còn lại cũng sẽ được xóa bỏ trong lộ trình 5-7 năm.

Như vậy, châu Âu là một trong những thị trường có yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm cao nhất thế giới. Do đó, việc ưu đãi thuế sẽ giúp nông sản Việt tiếp cận gần hơn vào thị trường này, đồng thời cũng giúp ngành nông sản Việt Nam, đặc biệt là XK nông sản sẽ tăng dần tính chuyên nghiệp.

Thêm vào đó, EU đã cam kết công nhận 41 chỉ dẫn địa lý (GIs) của Việt Nam và cho phép các GIs này được bảo hộ tự động tại EU khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực (Hải Minh, 2019). Vì thế, EVFTA là cơ hội rất lớn để Việt Nam có thể cạnh tranh với các đối tác FTA khác của EU và có được lợi thế so với các nhà XK nông sản lớn khác không có FTA với EU, như: Brazil, Philippine và Indonesia…

Hai là, cơ hội tiếp cận được nguồn vốn đầu tư, công nghệ hiện đại

Ngày càng có nhiều DN của EU chọn Việt Nam làm điểm đến để đầu tư. Chi phí lao động ở châu Âu là khá cao, khác nhiều so với chi phí lao động của Việt Nam. Chính điều này khiến cho khả năng cạnh tranh của các DN châu Âu là không cao. Ngược lại, cơ cấu chi phí của các DN Việt Nam lại khá hấp dẫn, các lợi thế của Việt Nam khá đa dạng, chất lượng lao động tốt hơn cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tốt hơn so với những nước khác trong khu vực.

Hợp tác giữa châu Âu và Việt Nam cũng mang lại nhiều lợi ích, giúp các DN Việt Nam tiếp cận tri thức, công nghệ của châu Âu, đồng thời đem lại cho các công ty châu Âu một cơ sở sản xuất đáng tin cậy, hiệu quả về mặt chi phí tại châu Á.

Ba là, cơ hội tự hoàn thiện quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng các quy định của EU

Việc EVFTA được ký kết sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động trao đổi thương mại để hàng hóa Việt Nam XK sang châu Âu, đáp ứng đúng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn mà thị trường này đòi hỏi. Những cam kết trong các lĩnh vực như phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBTs), các biện pháp kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPSS)... đã có những tác động nhất định tới hoạt động XK của Việt Nam trong thời gian vừa qua, được cho là sẽ có những tác động tích cực hơn, đem lại những lợi ích đáng kể cho XK của Việt Nam trong thời gian tới.

Một số thách thức đặt ra

Thứ nhất, sức ép cạnh tranh trên thị trường nội địa. Nhu cầu sử dụng các sản phẩm ngoại nhập đặc biệt là những sản phẩm có xuất xứ từ châu Âu đang ngày một gia tăng trong thời gian gần đây. Khi rào cản thuế quan được gỡ bỏ, hàng châu Âu sẽ dễ dàng thâm nhập thị trường Việt Nam, lúc này các DN Việt Nam sẽ gặp sức ép lớn từ phía các DN châu Âu.

Thứ hai, đáp ứng đòi hỏi khắt khe liên quan quy tắc xuất xứ. Hiệp định EVFTA hướng tới xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới 99% số dòng thuế. Tuy nhiên, để được hưởng mức ưu đãi này, hàng XK sang EU cần thoả mãn quy tắc xuất xứ. Đây có thể là một cản trở đối với hàng XK Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho các mặt hàng XK của Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN. Nếu không đảm bảo được quy tắc xuất xứ, hàng XK của Việt Nam sang EU chỉ được hưởng mức thuế đãi ngộ tối huệ quốc chứ không phải là mức thuế suất 0% trong EVFTA.

Thứ ba, việc tuân thủ những quy định nghiêm ngặt liên quan đến hàng rào phi thuế quan, như: vệ sinh, môi trường, lao động và quy trình công nghệ. Cụ thể là: Bên cạnh quy tắc xuất xứ, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật (SPS), quy định về môi trường, các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT)... cũng sẽ tạo ra những khó khăn, cản trở nhất định tới hoạt động XK nông sản của Việt Nam. Những quy định nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, quy tắc xuất xứ và các yêu cầu chứng nhận chất lượng tự nguyện, về trách nhiệm môi trường của rất nhiều tổ chức tại châu Âu cũng là những khó khăn lớn cho ngành nông sản Việt Nam hiện nay.

Có thể ví dụ như các nông sản tươi sống XK vào EU đều phải có chứng nhận Global Gap (Tiêu chuẩn về Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu). Để có chứng nhận này, DN phải xây dựng được những vùng trồng tương đối tập trung của DN hay của hợp tác xã.

Ngoài ra, khâu sơ chế, chế biến cũng phải được chứng nhận HACCP (hệ thống quản lý an toàn thực phẩm dựa trên cơ sở phân tích các mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn). Đây đều là những tiêu chuẩn thuộc vào loại cao nhất của thế giới.

Về an toàn thực phẩm, châu Âu quản lý rất khoa học và cập nhật thường xuyên các nguy cơ nên ngoài việc các DN tự đổi mới, học hỏi cũng cần sự hỗ trợ rất lớn của Nhà nước về truyền thông, đào tạo... để thích ứng kịp với những phương thức quản lý hiện đại về an toàn thực phẩm và chất lượng của thị trường châu Âu.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Theo tác giả, để tận dụng các lợi thế và hóa giải phần nào những thách thức đặt ra của Hiệp định EVFTA mang lại nhằm thúc đẩy XK hàng nông sản của Việt Nam vào EU, cần sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp sau:

Về phía Nhà nước

- Nâng cao chất lượng thể chế, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo yêu cầu của hội nhập quốc tế và các cam kết trong EVFTA thế hệ mới một cách toàn diện, đồng bộ cả về kinh tế, chính trị. Nhanh chóng rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho phù hợp với điều kiện áp dụng hiện hành, đặc biệt chú trọng đến các nội dung phi truyền thống, như: mua sắm Chính phủ, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường... Chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng DN và đội ngũ cán bộ Nhà nước tại địa phương để đảm bảo hiểu rõ và thực hiện đúng cam kết trong các FTA thế hệ mới.

- Cần đẩy mạnh hoạt động cấp C/O theo hướng đơn giản hóa, hiện đại hóa; Đẩy mạnh việc cấp C/O qua internet; Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh với thể chế ổn định, minh bạch...

- Tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các nước EU vào lĩnh vực nông nghiệp. Có thể thấy, FDI đóng vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền nông nghiệp nước ta. FDI góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ hiện đại và giải quyết việc làm cho lao động ngành nông nghiệp. Trong Hiệp định EVFTA, EU cũng cam kết sẽ có trợ giúp kỹ thuật nhằm nâng cao tay nghề, trình độ cho lao động Việt Nam. Hiện tại, FDI vào nông nghiệp nước ta còn hết sức khiêm tốn, nên vốn đầu tư từ EU vào lĩnh vực này lại càng có ý nghĩa hơn nữa.

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp. Hiệp định EVFTA mở ra rất nhiều cơ hội cho sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để khai thác được những cơ hội này thì điều kiện tiên quyết là nước ta phải nâng cao trình độ nguồn nhân lực hiện còn nhiều yếu kém. Người lao động cần bắt đầu thay đổi từ tư duy, bởi vì lao động nước ta vẫn mang nặng tư duy sản xuất truyền thống và chưa sẵn sàng hội nhập. Từ thay đổi tư duy, họ sẽ có động lực hoàn thiện, nâng cao trình độ để xây dựng nền sản xuất hàng hóa hiện đại.

- Song song với đó, cần đẩy mạnh việc xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, thương hiệu, nhãn hiệu quốc gia; Phát triển và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế; Cần có các chính sách xúc tiến thương mại theo từng thị trường, trong cả trung và dài hạn...

- Cần có cơ chế cảnh báo sớm để DN có thể chủ động phòng tránh các vụ kiện phòng vệ thương mại.

- Hiện nay, DN Việt Nam còn rất thiếu thông tin. Ngay khi Hiệp định được ký, nhiều DN châu Âu đã liên lạc tìm nguồn thực phẩm của Việt Nam để nhập khẩu nhưng họ yêu cầu phải có chứng nhận Global Gap, HACCP, có giống cây trồng và vật nuôi cụ thể, giống có bảo hộ sở hữu trí tuệ, nguồn gốc rõ ràng... Vì vậy, Nhà nước cần tích cực truyền thông cho các DN về các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm tại châu Âu.

Ngoài ra, các mặt hàng vào được thị trường châu Âu phải tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ. Việt Nam hiện đã gửi 39 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý Việt Nam sang châu Âu và đổi lại Việt Nam sẽ phải bảo hộ cho châu Âu 171 sản phẩm tại thị trường trong nước. Điều này có nghĩa là các sản phẩm đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, như: tiêu Quảng Trị, điều Bình Phước... đều có cơ hội lớn để XK vào EU. Tuy vậy, nhiều DN không biết đến cơ hội này (Lê Phương, 2019). Vì vậy, việc tuyên truyền cho DN về vấn đề này cũng là rất quan trọng

Về phía DN sản xuất và XK

- Nâng cao chất lượng hàng nông sản XK, đảm bảo đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn quốc tế, những yêu cầu của Global Gap… cần triển khai thực hiện mạnh mẽ. Mặc dù các cam kết về TBT và SPS của EVFTA có lưu ý đến chênh lệch về trình độ giữa EU và Việt Nam, nhưng rõ ràng chìa khóa quyết định thành công của XK hàng nông sản Việt Nam vào thị trường EU là chất lượng sản phẩm. Vì vậy, để nâng cao chất lượng hàng nông sản, cần có sự liên kết chặt chẽ của cả bốn “nhà”: Nhà nông - Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà DN. Sự liên kết trên sẽ tạo ra chuỗi sản xuất sản phẩm hiệu quả, đảm bảo từ khâu chọn giống, khoanh vùng nguyên liệu cho tới khâu chế biến, bảo quản và tiêu thụ hàng hóa.

- Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn: DN cần lựa chọn chiến lược sản phẩm và chiến lược thâm nhập thị trường phù hợp với yêu cầu, tình hình thực tế và khả năng của DN. Đồng thời, cũng đưa ra các giải pháp đồng bộ triển khai hiệu quả định hướng chiến lược XK nông sản sang thị trường EU, tối đa hóa giá trị gia tăng hàng nông sản XK bằng công nghệ sơ chế, chế biến tiên tiến và hiện đại.

- Xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản: Đây là công việc hết sức cần thiết đối với hàng nông sản XK chủ lực. Giải pháp tối ưu là DN cần cung cấp các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có xuất xứ tốt để nâng tầm thương hiệu, xây dựng lòng tin đối với người tiêu dùng châu Âu.

- Cần chủ động tìm hiểu các thông tin cần thiết khi XK sang EU, như: luật pháp nước sở tại, các quy định trong EVFTA. Đây là cơ sở để giải quyết vấn đề khi có khiếu kiện hay thắc mắc./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Công Thương (2019). Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU, bản dịch tiếng Việt

2. Bộ Công Thương (2016). Sổ tay cho DN Việt Nam về Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019). Báo cáo nghiên cứu đánh giá tác động đối với Việt Nam của hai Hiệp định EVFTA và IPA

4. UN Comtrade (2019). Số liệu xuất - nhập khẩu giữa Việt Nam và EU giai đoạn 2007-2017

5. World Bank (2019). Bộ cơ sở dữ liệu thương mại quốc tế

6. Mai Hiền (2019). Ôm trái đắng vì bán hàng nhưng lơ mơ về luật, truy cập từ https://plo.vn/kinh-te/quan-ly/om-trai-dang-vi-ban-hang-nhung-lo-mo-ve-luat-837296.html

7. Lê Phương (2019). EVFTA: Cơ hội nào cho xuất khẩu nông sản Việt?, truy cập từ https://bnews.vn/evfta-co-hoi-nao-cho-xuat-khau-nong-san-viet-/132647.html

8. Hải Minh (2019). 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường châu Âu, truy cập từ https://vnexpress.net/khoa-hoc/39-chi-dan-dia-ly-cua-viet-nam-co-co-hoi-tiep-can-thi-truong-chau-au-3973648.html

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 7 tháng 3/2020)