Nguyễn Duy Thanh

Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

TÓM TẮT:

Thực hiện hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây (Cloud -ERP) giúp tổ chức đạt được các lợi ích của phần mềm ERP, mà ít phải quan tâm đến hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT). Nghiên cứu dựa trên cơ sở khung lý thuyết công nghệ - tổ chức - môi trường (TOE) của Tornatzky và cộng sự (1990), đề xuất mô hình lý thuyết về giá trị kinh doanh của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây. Kết quả thực nghiệm mô hình chỉ ra các thành phần TOE có quan hệ cấu trúc với sự chấp nhận công nghệ và thành quả tổ chức.

Từ khóa: Cloud - ERP, chấp nhận công nghệ, thành quả tổ chức, TOE

GIỚI THIỆU

Các giải pháp Cloud-ERP giúp giảm áp lực cho bộ phận CNTT trong tổ chức (Gupta và cộng sự, 2018). Tuy nhiên, các giải pháp này phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp, nên việc chọn nhà cung cấp phù hợp là rất quan trọng (Marston và cộng sự, 2011).

Ở Việt Nam, theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2019, thì hiện chỉ có 1,3% các tổ chức ứng dụng các giải pháp ERP, trong đó hầu hết các dự án triển khai ERP đều không đạt được các mục tiêu như mong muốn. Nghiên cứu đề xuất một mô hình lý thuyết về giá trị kinh doanh của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây trong bối cảnh hiện nay có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khái quát về Cloud -ERP

Cloud - ERP là hệ hoạch định nguồn lực tổ chức được đặt vào môi trường đám mây. Cloud-ERP có thể cung cấp sự linh hoạt, chi phí hiệu quả, khả năng mở rộng, khả năng tương thích, sự sẵn sàng và dữ liệu được cấu hình cho bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào (Usman và cộng sự, 2016). Bên cạnh đó, Cloud - ERP cũng đang đạt được sự tăng trưởng rất nhanh trên thế giới (Albar và Hoque, 2019). Các loại hình dịch vụ của Cloud-ERP được mô tả chi tiết ở Hình 1, trong đó có ba thành phần chính như sau:

- IaaS cho ERP: Khi sử dụng IaaS cho hoạt động của ERP, các tổ chức thường thuê các máy chủ từ nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây. Trong khi các tổ chức vẫn có thể lựa chọn nhà cung cấp giải pháp ERP và mua bản quyền phần mềm ERP.

- PaaS cho ERP: Dịch vụ nền tảng ở cấp độ này dùng cho việc phát triển phần mềm, kiểm thử, hoặc phân phối phần mềm. PaaS cho ERP không dành cho một hệ thống tích hợp và phần mềm đóng gói của các hệ thống ERP.

- SaaS cho ERP: Vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ Cloud-ERP được liên kết với nhau. Điều này cho phép các tổ chức lựa chọn được mô hình mà họ ưa thích, như vận hành hệ thống ERP trên đám mây nội bộ hoặc đám mây bên ngoài.

Hình 1: Các loại hình Cloud-ERP

Nguồn: Johnson (2019)

Tổng quan lý thuyết liên quan đến nghiên cứu

Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ:

- Khung lý thuyết công nghệ - tổ chức - môi trường (TOE) của Tornatzky và cộng sự (1990) xác định trong ba bối cảnh là: công nghệ, tổ chức và môi trường. Trong các nghiên cứu có liên quan, TOE còn có thể tích hợp được với các lý thuyết hệ thống thông tin (HTTT) khác, như: TAM, UTAUT;

- Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) do Davis (1989) đề xuất để giải thích hành vi của người sử dụng CNTT;

- Venkatesh và cộng sự (2003) đề xuất lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) để xem xét sự chấp nhận và sử dụng HTTT;

- Các lý thuyết về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ được minh chứng trong nhiều nghiên cứu liên quan về CNTT/HTTT, như: thương mại điện tử (Awa và cộng sự, 2015), hệ hoạch định nguồn lực tổ chức (Liu và Wang 2010), điện toán đám mây (Gangwar và cộng sự, 2015), Cloud - ERP (Albar và Hoque, 2019).

Lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT:

Giá trị kinh doanh của CNTT là những ảnh hưởng của hiệu quả tổ chức của CNTT ở các cấp độ khác nhau, bao gồm những ảnh hưởng đến thành quả tổ chức và vị thế cạnh tranh (Melville và cộng sự, 2004), xây dựng các mô hình lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT để xem xét những đóng góp của CNTT cho thành quả tổ chức. Giá trị kinh doanh của CNTT thường được sử dụng để tham chiếu những ảnh hưởng đến thành quả tổ chức của CNTT, bao gồm: nâng cao năng suất, tăng lợi nhuận, giảm chi phí, nâng cao lợi thế cạnh tranh và các thành quả khác (Devaraj và Kohli, 2003).

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ các vấn đề thực tiễn về Cloud - ERP, kế thừa và tổng hòa cơ sở lý thuyết ở các nghiên cứu thành phần có liên quan như: khung lý thuyết TOE của Tornatzky và cộng sự (1990) và các lý thuyết về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ, như: TAM của Davis (1989); UTAUT của Venkatesh và cộng sự (2003) và lý thuyết giá trị kinh doanh CNTT của Melville và cộng sự (2004) để xây dựng mô hình nghiên cứu. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình lý thuyết nghiên cứu về giá trị kinh doanh của hệ hoạch định nguồn lực trên điện toán đám mây như ở Hình 2, với các thành phần được diễn giải như sau:

Hình 2: Mô hình lý thuyết nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Tác giả nghiên cứu và đề xuất

Các thành phần TOE của mô hình nghiên cứu có ba thành phần chính, như trong khung lý thuyết TOE của Tornatzky và cộng sự (1990), bao gồm: công nghệ - tổ chức - môi trường (E).

Thành phần công nghệ (T) trong nghiên cứu này được đề xuất với hai yếu tố thành quả mong đợi và hạ tầng CNTT, cụ thể:

- Thành quả mong đợi (Performance expectancy) là mức độ, mà cá nhân tin rằng việc sử dụng HTTT giúp họ đạt được hiệu quả trong công việc và sẽ chấp nhận việc sử dụng công nghệ mới, nếu như biết rằng, công nghệ này đem lại các lợi ích (Compeau và Higgins, 1995). Thành quả mong đợi là mục tiêu rất quan trọng trong lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (Venkatesh và cộng sự, 2003).

- Hạ tầng CNTT (IT infrastructures) được xem như là hệ thống cơ sở đáp ứng nhu cầu về CNTT một cách hoàn thiện, để phục vụ cho hệ thống hoạt động và được chia sẻ trong toàn tổ chức dưới dạng dịch vụ với hệ điều phối tập trung (Weill và Broadbent, 1998). Lý thuyết này được nhấn mạnh trong giá trị kinh doanh của CNTT như trong Markus và Tanis (2000).

Thành phần tổ chức (O) trong khung lý thuyết TOE ở nghiên cứu này được đề xuất với hai yếu tố là sự hỗ trợ của quản lý và văn hóa tổ chức:

- Sự hỗ trợ của quản lý (Top management support) là các hoạt động hỗ trợ của quản lý cấp cao hoặc người đứng đầu tổ chức trong việc lên ý tưởng cho các mục tiêu của hệ thống, phân tích và thiết kế, phát triển hệ thống và triển khai hệ thống (Porter và Millar, 1985). Lý thuyết sự hỗ trợ của quản lý có ảnh hưởng đáng kể đến ý định hành vi sử dụng công nghệ hay sự chấp nhận Cloud - ERP (Albar và Hoque, 2019).

- Văn hóa tổ chức (Organizational culture) là tập hợp các giá trị niềm tin và các giả định thường xảy ra trong tổ chức có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của cá nhân (Hofstede, 1991). Văn hóa tổ chức còn được xem là tập hợp của sự hiểu biết chung về hoạt động trong tổ chức (Deshpande và Webster, 1989).

Thành phần môi trường (E) trong khung lý thuyết TOE ở nghiên cứu này được đề xuất với hai yếu tố là sự hỗ trợ bên ngoài và cạnh tranh trong ngành:

- Sự hỗ trợ bên ngoài (External support) liên quan đến các hoạt động của nhà cung cấp các dịch vụ CNTT, sự hỗ trợ từ nhà cung cấp hoặc của chuyên gia tư vấn (Themistocleous, 2004). Sự hỗ trợ bên ngoài có liên quan đến năng lực CNTT của tổ chức có được từ học tập kinh nghiệm của nhà cung cấp đến việc áp dụng vào tổ chức (Alshamaila và cộng sự, 2013).

- Cạnh tranh trong ngành là mức độ áp lực mà tổ chức phải gánh chịu từ các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong cùng ngành, áp lực này tạo ra động lực để các tổ chức ứng dụng công nghệ mới (Majumdar và cộng sự, 1992). Sự cạnh tranh trong ngành là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mức chấp nhận Cloud-ERP (Gutierrez và cộng sự, 2015).

Sự chấp nhận công nghệ (IT adoption) phù hợp với các lý thuyết cơ bản của các mô hình ý định hành vi, được xem xét trong các lý thuyết về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ, như: TAM của Davis (1989); UTAUT của Venkatesh và cộng sự (2003), đồng thời làm cơ sở cho các mối quan hệ ý định hành vi. Sự chấp nhận Cloud - ERP là việc người sử dụng sẵn sàng chấp nhận hệ thống này trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức (Albar và Hoque, 2019).

Thành quả tổ chức (Firm performance) là thành quả tổng thể của tổ chức, bao gồm: năng suất, hiệu quả, lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh (Melville và cộng sự, 2004). Thành quả tổ chức được xem như là giá trị kinh doanh của CNTT (Schreyn, 2013), hay kết quả đầu ra (Sabherwal và Jeyaraj, 2015).

THẢO LUẬN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mối quan hệ giữa các thành tố

Thành phần công nghệ (T) có mối quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ từ nền tảng của khung lý thuyết TOE của Tornatzky và cộng sự (1990), và được khẳng định trong các nghiên cứu liên quan, như: trong UTAUT của Venkatesh và cộng sự (2003); nghiên cứu của Baptista và Oliveira (2015) với yếu tố thành quả mong đợi và như trong lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT của Melville và cộng sự (2004). Do đó, các mối quan hệ sau được đề xuất:

- P1a: Thành quả mong đợi có quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ.

- P1b: Hạ tầng CNTT có quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ.

Thành phần tổ chức (O) có mối quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ, từ nền tảng khung lý thuyết TOE của Tornatzky và cộng sự (1990), được khẳng định lại trong nghiên cứu liên quan của Jesus và cộng sự (2018) với yếu tố sự hỗ trợ của quản lý và nghiên cứu của Albar và Hoque (2019) với yếu tố văn hóa tổ chức. Do đó, các mối quan hệ sau được đề xuất:

- P2a: Sự hỗ trợ của quản lý có quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ.

- P2b: Văn hóa tổ chức có quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ.

Thành phần môi trường (E) có mối quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ từ nền tảng của khung lý thuyết TOE của Tornatzky và cộng sự (1990), và được khẳng định lại trong các nghiên cứu liên quan: Kim và cộng sự (2018) với yếu tố sự hỗ trợ bên ngoài và Albar và Hoque (2019) với yếu tố cạnh tranh trong ngành. Do đó, các mối quan hệ sau được đề xuất:

- P3a: Sự hỗ trợ bên ngoài có quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ.

- P3b: Cạnh tranh trong ngành có quan hệ đồng biến với sự chấp nhận công nghệ.

Sự chấp nhận công nghệ cũng có quan hệ đồng biến với thành quả tổ chức theo nền tảng lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT (Markus và Tanis 2000) và cũng được khẳng định lại trong nghiên cứu của Melville và cộng sự (2004) về lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT. Do đó, mối quan hệ sau được đề xuất:

- P4: Sự chấp nhận công nghệ có quan hệ đồng biến thành quả tổ chức.

Ý nghĩa mô hình

Các khái niệm nghiên cứu được tiếp cận theo các bối cảnh khác nhau của khung lý thuyết TOE của Tornatzky và cộng sự (1990). Trong đó, thành phần công nghệ (T, thành quả mong đợi và hạ tầng CNTT), thành phần tổ chức (O, sự hỗ trợ của quản lý và văn hóa tổ chức), thành phần môi trường (E, sự hỗ trợ bên ngoài và cạnh tranh trong ngành). Ngoài ra, các nội dung của nghiên cứu còn tiếp cận theo các lý thuyết HTTT có liên quan như: các lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (TAM, UTAUT) với yếu tố sự chấp nhận công nghệ; Melville và cộng sự (2004) lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT với yếu tố thành quả tổ chức.

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết cho các lý thuyết có liên quan, như: lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT (Melville và cộng sự, 2004), khung lý thuyết TOE (Tornatzky và cộng sự, 1990), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Davis, 1989); lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) (Venkatesh và cộng sự, 2003). Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giúp giảm dần khoảng cách về sự không phù hợp giữa CNTT và nhu cầu kinh doanh của tổ chức (Markus và Tanis, 2000); đồng thời, góp phần làm tăng dần những đóng góp của CNTT cho giá trị kinh doanh của tổ chức (Schryen, 2013).

KẾT LUẬN

Nghiên cứu tích hợp được các trường phái lý thuyết HTTT khác nhau như: khung lý thuyết TOE; các lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ và lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT để xây dựng một mô hình khái niệm về giá trị kinh doanh của Cloud - ERP. Trong khi khung lý thuyết TOE chủ yếu xem xét các thành phần công nghệ, tổ chức và môi trường; lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ quan tâm nhiều đến ý định và hành vi sử dụng công nghệ mới. Nghiên cứu chẳng những tích hợp được các trường phái lý thuyết trên, mà còn nhấn mạnh thành quả tổ chức trong lý thuyết giá trị kinh doanh của CNTT. Tuy nhiên, mô hình lý thuyết được đề xuất từ nghiên cứu vẫn chưa xem xét đầy đủ các yếu tố chấp nhận và sử dụng công nghệ, các thành phần thành quả tổ chức như trong các lý thuyết có liên quan đã đề cập. Hạn chế này mở ra các hướng nghiên cứu triển vọng tiếp theo trong tương lai./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Albar, A., Hoque, M. (2019). Factors affecting cloud ERP adoption in Saudi Arabia: An empirical study, Information Development, 35(1), 150-164

2. Alshamaila, Y., Papagiannidis, S., Li, F. (2013). Cloud computing adoption by SMEs in the north east of England: A multi-perspective framework, Journal of Enterprise Information Management, 26(3), 250-275

3. Awa, H., Ojiabo, O., Emecheta, B. (2015). Integrating TAM, TPB and TOE frameworks and expanding their characteristic constructs for e-commerce adoption by SMEs, Journal of Science & Technology Policy Management, 6(1), 76-94

4. Compeau, D., Higgins, C. (1995). Application of social cognitive theory to training for computer skills, Information Systems Research, 6(2), 118-143

5. Davis, F. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology, MIS Quarterly, 13(3), 319-340

6. Deshpande, R., Webster, F. (1989). Organizational culture and marketing: Defining the research agenda, Journal of Marketing, 53(1), 3-15

7. Devaraj, S., & Kohli, R. (2003). Performance impacts of information technology: Is actual usage the missing link?, Management Science, 49(3), 273-289

8. Gangwar, H., Date, H., Ramaswamy, R. (2015). Understanding determinants of cloud computing adoption using an integrated TAM-TOE model, Journal of Enterprise Information Management, 28(1), 107-130

9. Gupta, S., Kumar, S., Singh, S., Foropon, C., Chandra, C. (2018). Role of cloud ERP on the performance of an organization: Contingent resource based view perspective, International Journal of Logistics Management, 29(2), 659-675

10. Gutierrez, A., Boukrami, E., Lumsden, R. (2015). Technological, organisational and environmental factors influencing managers’ decision to adopt cloud computing in the UK, Journal of Enterprise Information Management, 28(6), 788-807

11. Johnson, D., (2019). ERP cloud news, access to http://erpcloudnews.com

12. Kim, K., Byon, K. K., Song, H., (2018). Internal contributinos to initiating corporate social responsibility in sport organizations, Management decision, 56 (8), 1804-1817

13. Liu, H., Wang, X. (2010). Strategy research of enterprise information planning based on TOE-TAM model: Case study for ERP implementation of a discrete manufacturing, In DBTA 2010 Proceedings

14. Majumdar, S., Venkataraman, S. (1993). New technology adoption in US telecommunications: The role of competitive pressures and firm-level inducements, Research Policy, 22(5-6), 521-536

15. Marston, S., Li, Z., Bandyopadhyay, S., Zhang, J., & Ghalsasi, A. (2011). Cloud computing-The business perspective, Decision Support Systems, 51(1), 176-189

16. Melville, N., Kraemer, K., Gurbaxani, V. (2004). Review: Information technology and organizational performance: An integrative model of IT business value, MIS Quarterly, 28(2), 283-322

17. Porter, M., Millar, V. (1985). How information gives you competitive advantage. Harvard Business Review, 63(4), 149-160

18. Sabherwal, R., Jeyaraj, A. (2015). Information technology impacts on firm performance: An extension of Kohli and Devaraj (2003), MIS Quarterly, 39(4), 809-836

19. Schryen, G. (2013). Revisiting IS business value research: What we already know, what we still need to know, and how we can get there, European Journal of Information Systems, 22(2), 139-169

20. Tornatzky, L., Fleischer, M., Chakrabarti, A. (1990). The processes of technological innovation, Lexington

21. Usman, U., Ahmad, M., Zakariya, N. (2016). Factors influencing cloud enterprise resource planning adoption in SMEs, In Information Science and Applications, 235-245: Springer

22. Venkatesh, V., Morris, M., Davis, G., Davis, F. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view, MIS Quarterly, 27(3), 425-478

23. Weill, P., Broadbent, M. (1998). Leveraging the new infrastructure: How market leaders capitalize on information technology, Harvard Business

Summary

Implementation of cloud enterprise resource planning (Cloud-ERP) assists organizations in achieving the benefits of ERP software, with little regard for information technology (IT) infrastructure. Based on the theoretical framework of technology - organization - environment (TOE) developed by Tornatzky et al. (1990), this research proposes a theoretical model of business value of Cloud-ERP. Empirical result demonstrates that components of TOE have structural relationships with technology acceptance and organizational performance.

Keywords: Cloud-ERP, technology acceptance, organizational performance, TOE

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo 15 tháng 5/2020)