TS. Trịnh Thị Hường, ThS. Lê Văn Tuấn, ThS. Đàm Thị Thu Trang

Trường Đại học Thương mại

TÓM TẮT:

Nghiên cứu giới thiệu và sử dụng lý thuyết mới - phương pháp phân tích số liệu đa hợp (Compositional data analysis – CODA) trong xem xét đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu cấp quốc gia của khách du lịch nội địa tại Việt Nam, gồm cả địa điểm du lịch, nguồn thông tin trước khi du lịch và đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch. Nhóm tác giả gặp khó khăn trong tiếp cận số liệu, nên các đánh giá được minh họa trên số liệu được lấy từ Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch năm 2013 do Tổng cục Thống kê thực hiện.

Từ khóa: cơ cấu chi tiêu, du lịch, khách du lịch nội địa

GIỚI THIỆU

Cấu trúc chi tiêu của khách du lịch có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam và ngược lại. Từ xu hướng chi tiêu của khách du lịch, Tổng cục Du lịch và các địa phương sẽ lên kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng và các sản phẩm du lịch để thúc đẩy chi tiêu cao hơn nữa của khách du lịch. Đồng thời, các địa phương có thể chủ động phát triển kết cấu hạ tầng và sản phẩm theo đặc điểm của địa phương và từ đó tác động đến xu hướng chi tiêu của khách du lịch. Cụ thể, mức chi tiêu bình quân một ngày khách phản ánh mức độ thu nhập của người dân địa phương, từ đó đóng góp cho kinh tế địa phương. Đồng thời, mức chi tiêu bình quân một ngày khách cũng phản ánh xu hướng chi tiêu của khách dựa trên đặc điểm và các sản phẩm du lịch của địa phương. Mức chi bình quân một ngày càng cao sẽ càng tốt cho kinh tế địa phương.

Do đó, nghiên cứu về xu hướng chi tiêu của khách du lịch rất cần thiết trong bối cảnh phát triển thị trường du lịch tại Việt Nam. Đồng thời, các nghiên cứu về cơ cấu chi tiêu của khách du lịch cũng hạn chế và phức tạp do nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Nhân tố chủ quan xuất phát từ các đặc điểm của khách du lịch và nhân tố khách quan do đặc điểm của điểm đến du lịch và các nhân tố khác.

Khảo sát của nhóm tác giả cho thấy, các nghiên cứu về chi tiêu của khách du lịch tại Việt Nam mới dừng ở cấp địa phương hoặc cấp vùng, chưa có đánh giá chung ở cấp quốc gia; cơ cấu chi tiêu được thể hiện qua các bảng thống kê cơ bản, biểu đồ hình cột và hình tròn đơn giản. Các nghiên cứu này cũng chưa sử dụng các công cụ phân tích thống kê mới, phù hợp với đặc điểm của thống kê du lịch.

Chúng tôi sử dụng phương pháp CODA để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu. Đây là lần đầu tiên phương pháp này được sử dụng trong đánh giá về cơ cấu chi tiêu của khách du lịch tại Việt Nam. Các đánh giá được minh họa trên số liệu chi tiêu của khách du lịch nội địa tại 30 tỉnh, thành từ bộ số liệu điều tra chi tiêu của khách du lịch 2013 (Điều tra chi tiêu của khách du lịch nội địa được tiến hành trong các năm 2005, 2009, 2013 và 2017. Tuy nhiên, do khó khăn trong tiếp cận số liệu, nên nghiên cứu sử dụng số liệu năm 2013).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp CODA

Gần đây, Ferrer - Rosell và cộng sự (2015, 2016a, 2016b, 2017, 2018) đã phát triển phương pháp CODA và áp dụng vào phân tích cơ cấu chi tiêu của khách du lịch. Phương pháp CODA được minh họa qua các dạng biểu đồ mới: biểu đồ tam giác (ternary) và biểu đồ cây phân lớp (Dendogram) bảng phân tổ dãy nhị phân (sequential binary partition, SBP) để minh họa cấu trúc chi tiêu. Đồng thời, mô hình hồi quy dựa trên dữ liệu đa hợp cũng được phát triển, dựa trên hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS). Từ đó, đưa đến các nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của cấu trúc chi tiêu đến biến quan tâm (ví dụ GDP của một quốc gia) và ảnh hưởng của các nhân tố khác đến cơ cấu chi tiêu bình quân một ngày.

Phương pháp này được đánh giá là mới và cho kết quả khá chính xác khi nghiên cứu xem xét nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu cấp quốc gia, gồm cả địa điểm du lịch, nguồn thông tin trước khi du lịch và đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch.

CODA được thể hiện qua bảng phân tổ dãy nhị phân, một véc tơ đa hợp S gồm D tỷ trọng được biểu diễn trong siêu phẳng SD:

Trong đó, ký hiệu ' là chuyển vị của véc tơ S và tổng các tỷ trọng của véc tơ S bằng 1 hoặc 100%. Vì mối quan hệ phụ thuộc giữa các tỷ trọng S1, S2, ... , SD, tức là tổng bằng 1, các mô hình hồi quy thông thường sẽ không được áp dụng. Phép toán tỷ lệ logarit đẳng cự (isometric log-ratio, ILR) chuyển đổi D tỷ trọng trong siêu phẳng về véc tơ gồm D-1 tọa độ trong không gian Euclide thông thường (Egozcue và cộng sự. 2003). Phép biến đổi ILR dựa trên tọa độ cân bằng (balance coordinates) từ phân tổ dãy nhị nguyên (sequential binary partition, SBP) của D tỷ trọng. Cụ thể:

Bước 1: Tọa độ cân bằng thứ nhất được phân thành 2 nhóm không trùng nhau: nhóm tử số và nhóm mẫu số, ký hiệu là 1 và -1.

Bước 2: Từng nhóm nhỏ trên được tiếp tục phân tổ thành hai tọa bộ cân bằng, kí hiệu 1 và -1. Nhóm nhỏ không được phân tổ kí hiệu là 0. Ví dụ của phân tổ dãy nhị nguyên của siêu phẳng 4 chiều có véc tơ S = (S1, S2, S3, S4)' được thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1: Ví dụ phân tổ dãy nhị nguyên (SBP) trong siêu phẳng S4

Nguồn: Tác giả thiết lập ví dụ

Tương ứng với ví dụ phân tổ dãy nhị nguyên (SBP) ở Bảng 1, phép biến đổi ILR tương ứng, gồm 3 tọa độ là:

Khi đó, như miêu tả trong Bảng 1, tọa độ ILR1 chứa thông tin so sánh sự thay đổi giữa phân tổ {S1, S2} {S3, S4}. Tương tự, ILR2 (tương tự ILR3 ) chứa thông tin so sánh tỷ S1 và S2 (tương tự S3 và S4). Nghiên cứu Pawlowsky-Glahn và Buccianti (2011) chứng minh phép biến đổi ILR có ánh xạ ngược, tức là có thể lấy nghịch đảo của ILR để đạt các giá trị tỷ trọng tương ứng trong siêu phẳng SD. Sau quá trình biến đổi, các giá trị ILR có thể đóng vai trò là biến phụ thuộc hoặc biến độc lập trong mô hình hồi quy thông thường. Ví dụ đơn giản là mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương tối thiểu (OLS). Giải thích ý nghĩa của hệ số hồi quy có thể được giải thích gián tiếp, tức là sự tác động của biến độc lập lên các biến ILR (Muller và cộng sự, 2016; Dumuid và cộng sự, 2018), hoặc có thể giải thích trực tiếp, tức là sự tác động của biến độc lập lên từng tỷ trọng trong siêu phẳng (Morais và cộng sự, 2018).

Đồng thời, khi sử dụng phân tổ dãy nhị nguyên (SBP), biểu đồ cây phân lớp (CoDa-Dendogram) được áp dụng để so sánh các thống kê cơ bản giữa các phân tổ.

Số liệu điều tra chi tiêu của khách du lịch nội địa

Theo tìm hiểu của nhóm tác giả, điều tra chi tiêu của khách du lịch nội địa được Tổng cục Thống kê tiến hành trong các năm: 2003, 2005, 2009, 2013 và 2017. Tuy nhiên, do khó khăn trong tiếp cận số liệu, nên nhóm tác giả dụng số liệu điều tra 2013 trong nghiên cứu minh họa cho việc sử dụng phương pháp CODA trong đánh giá cơ cấu chi tiêu của khách du lịch trên tầm quốc gia.

Nghiên cứu dựa trên số liệu điều tra chi tiêu của khách du lịch được Tổng cục Thống kê điều tra tháng 07/2013. Bộ số liệu gồm cả khách du lịch nội địa (24.139 lượt khách) tại 30 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và khách quốc tế đến Việt Nam (9.500 lượt khách) tại 14 tỉnh, thành. Bộ số liệu thu thập chi tiêu của khách tự sắp xếp đi và khách đi theo tour. Nghiên cứu này hạn chế trên khách du lịch nội địa tự sắp xếp đi (17.218 lượt khách).

Phiếu điều tra du lịch thu thập thông tin về nhân khẩu học của khách du lịch, bao gồm nhóm tuổi, giới tính, mục đích chuyến đi, các nguồn thông tin tham khảo để quyết định chuyến đi và mức độ hài lòng trong chuyến đi. Đặc biệt, điều tra chú trọng vào chi tiêu của từng khoản mục của khách du lich lịch như mục đích của cuộc điều tra. Trong đó, phương pháp tổng hợp số liệu được áp dụng theo phương pháp bình quân. Cụ thể:

Các chi phí trong chuyến du lịch được chia thành cách khoản mục chính: (1) Chỗ ở (Accomodation); (2) Ăn uống (Food); (3) Đi lại (Travel); (4) Chi phí tham quan; (5) Chi phí mua hàng hóa, quà lưu niệm, kỷ niệm; (6) Chi phí dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí; (7) Chi phí mua thuốc chữa bệnh, dịch vụ y tế; (8) Chi khác. Dựa vào thống kê cơ bản của chi tiêu bình quân 1 ngày khách và chi tiêu bình quân từng khoản mục 1 ngày khác, nghiên cứu gộp chung các khoản mục (4) đến khoản mục (8) và gọi chung là khoản mục chi cho các hoạt động (Activity). Mức chi tiêu bình quân 1 ngày khách cho từng khoản mục được tính tương tự như chi tiêu bình quân 1 ngày khách. Từ đó, cơ cấu chi bình quân 1 ngày khách cho từng khoản mục (đơn vị: %, phần trăm) được xác định như sau:

Cách phân chia các khoản mục chi tiêu như trên cũng tương tự các nghiên cứu khách trên thế giới khi nghiên cứu về cơ cấu chi tiêu của khách du lịch (Ferrer - Rosell và Coenders, 2018; Ferrer - Rosell và cộng sự, 2015; Ferrer - Rosell và cộng sự, 2016; Ferrer - Rosell Coenders, 2017).

Nhằm mục đích nghiên cứu chi tiết các khoản mục chi tiêu, nghiên cứu này hạn chế trên các khách nội địa đi theo hình thức tự sắp xếp, chiếm khoảng 78,4% số khách nội địa được điều tra. Hình thức đi du lịch tự sắp xếp có nhiều ưu điểm so với hình thức đi theo tour. Tuy nhiên, số liệu điều tra du lịch qua các năm cho thấy lượng khách đi theo tour đang có xu hướng tăng do hoạt động của các công ty lữ hành được cải thiện về chất lượng và giá cả. Xu hướng khách đi theo tour cũng thuận lợi hơn cho sự liên kết giữa các ngành nghề và cơ sở đến hoạt động du lịch.

Ứng dụng CODA trong điều tra chi tiêu của khách du lịch nội địa

Đối với từng khách du lịch, véc tơ tỷ trọng chi tiêu bình quân 1 ngày khách cho từng khoản mục, tức là S = (SAccomodation , SFood , STravel , SActivity) là một thành phần của siêu phẳng S4 Dựa vào các nghiên cứu trước (lịch (Ferrer - Rosell và Coenders, 2018; Ferrer - Rosell và cộng sự, 2015; Ferrer - Rosell và cộng sự, 2016; Ferrer-Rosell Coenders, 2017), phân tổ dãy nhị nguyên được minh họa trong Bảng 2. Trong đó, phân tổ {SActivity ,STravel} và {SFood ,SAccomodation } thể hiện xu hướng chi tiêu khoản mục linh động và khoản mục cơ bản (tức là Ăn - Ở theo văn hóa của người Việt Nam). Các phân tổ tiếp theo phân chia nhỏ từng khoản mục ở trên.

Bảng 2: Phân tổ dãy nhị nguyên (SBP) trong siêu phẳng phân mục chi tiêu S = (SAccomodation , SFood , STravel , SActivity)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Ứng với ví dụ phân tổ dãy nhị nguyên (SBP) ở Bảng 2, phép biến đổi ILR tương ứng, gồm 3 biểu thức là:

Mô hình hồi quy đa hợp (compositional regression models) xem xét các nhân tố tác động đến cơ cấu chi tiêu, gồm 3 mô hình hồi quy tuyến tính tương ứng với 3 biến đổi ILR và các biến độc lập trong các mô hình là giống nhau. Cụ thể:

Trong đó, Xj bao gồm: Các đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch (nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp); Mục đích chuyến đi; Phương tiện di chuyển; Số lần tham quan; Nguồn thông tin tham khảo; Mức độ ấn tượng và hài lòng trong chuyến đi.

Các tác giả Muller và cộng sự (2016), Dumuid và cộng sự (2018) đã chứng minh rằng, sự lựa chọn dãy phân tổ nhị nguyên (SBP), liên quan đến công thức chuyển đổi ILR, là bất biến với kết quả hồi quy tuyến tính. Cụ thể, tham số tự do (α) và các kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (quality of fit) không phụ thuộc vào việc lựa chọn ILR khi áp dụng phương pháp phân tích giải thích trực tiếp các hệ số của mô hình hồi quy.

Các tính toán trong nghiên cứu này được tiến hành trên phần mềm Rstudio, phiên bản 3.6.1. Nghiên cứu sử các dụng gói dữ liệu compositions, robCompositions, ggplot2 và tidyverse trong phần mềm Rstudo.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm cơ bản của khách du lịch nội địa đi theo hình thức tự túc

Bảng 3 thể hiện đặc điểm chung của khách du lịch nội địa theo hình thức tự túc. Có 17.218 khách nội địa trong nghiên cứu này. Chi tiêu bình quân 1 ngày khách là 1.241 nghìn đồng. Trung bình1 lượt khách ở lại địa điểm du lịch là 2,7 ngày. Nhóm tuổi du lịch chủ yếu là từ 25 đến 24 tuổi và 34 đến 44 tuổi và hai nhóm tuổi này có tỷ lệ tương đối bằng nhau. Khách du lịch chủ yếu là nam giới và tỷ lệ nam giới gần gấp đôi nữ giới. Nhóm nghề nghiệp công nhân viên chức chiếm 36,6% và nhiều nhất trong các ngành nghề. Xu hướng này đúng với phong trào du lịch do công đoàn các cơ quan đứng ra tổ chức hàng năm vào dịp hè (tháng 7). Trong các mục đích du lịch, mục đích nghỉ ngơi, tham gian và vui chơi giải trí chiếm nhiều nhất. Tỷ lệ người du lịch có trẻ em dưới 3 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ (12,9%), nên nhóm tác giả giả thiết tỷ lệ trẻ em không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

Trước chuyến đi du lịch, khách du lịch sẽ tham khảo trên 1 nguồn thông tin (dựa trên 6 nguồn thông tin: bạn bè, người thân; sách, báo, tạp chí; internet; công ty du lịch; tivi; được mời). Trong đó, nguồn tham khảo phổ biến nhất là từ bạn bè và người thân. Hầu hết khách du lịch (95%) hài lòng với chuyến đi.

Bảng 3: Đặc điểm chung của khách du lịch nội địa theo hình thức tự túc

Ghi chú: Đối với các biến liên tục, thống kê gồm giá trị trung bình và lệch chuẩn chuẩn (trong ngoặc). Đối với các biến rời rạc, giá trị tương ứng là tỷ lệ phần trăm.

Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê

Tuy nhiên, trong 5 đặc điểm ấn tượng tại điểm thăm quan (phong cảnh đẹp; thái độ của người dân nơi đến du lịch, chất lượng phục vụ của các cơ sở lưu trú, chất lượng phục vụ tại các điểm tham quan, hàng hóa rẻ), khách du lịch chỉ hài lòng trung bình 1 đến 2 đặc điểm. Đặc biệt, phong cảnh đẹp là đặc điểm được ấn tượng nhất của khách. Kết quả miêu tả cơ bản của số liệu cho thấy cần nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú, phụ vụ tại các điểm thăm quan hơn nữa.

Ảnh hưởng của điểm đến đến cơ cấu chi tiêu

Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, các tỉnh có mức chi tiêu bình quân 1 ngày khách cao nhất là Khánh Hòa (1.753 ngàn đồng), Quảng Ninh (1.800 ngàn đồng) và TP. Hồ Chí Minh (1.712 ngàn đồng). Tỉnh có mức chi tiêu bình quân 1 ngày khách thấp nhất là Vĩnh Long (503 ngàn đồng), Thái Bình (666 ngàn đồng).

Về cơ cấu chi tiêu, tại hầu hết các tỉnh, chi tiêu cho Hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 30%). Tiếp theo, tỷ trọng chi tiêu cho Chỗ ở và Ăn uống chiếm vị trí thứ 2 tùy theo từng tỉnh, thành phố. Chi tiêu cho Đi lại chiếm tỷ trọng thấp nhất ở tất cả các tỉnh, thành phố và chiếm khoảng 10%-20%. Xu hướng chi tiêu ở trên có thể hiện sự đa dạng các dịch vụ du lịch ở các tỉnh, thành phố khi chi tiêu cho các hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất.

Trong khi đó, chi tiêu cho Chỗ ở và Ăn uống vẫn chiếm tỷ trọng cao, vì đó là hai khoản mục cơ bản nhất của một chuyến tham quan. Chi tiêu cho Đi lại chiếm tỷ trọng thấp nhất tương ứng với xu hướng của khách nội địa và phương tiện di chuyển chủ yếu là xe ô tô.

Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu

Lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu được tiến hành thông qua mô hình hồi quy từng bước (a stepwise regression analysis) kết hợp với phương pháp lựa chọn loại bỏ (backward selection). Đầu tiên, nhóm nghiên cứu đưa vào mô hình hồi quy toàn bộ các ở Bảng 3 và loại bỏ lần lượt từng biến, nếu biến đó không có ý nghĩa (tức là p-value nhỏ hơn 0,05). Kết quả hồi quy được thể hiện ở Bảng 4 với tất cả các hệ số hồi quy đều có ý nghĩa. Hệ số R2 hiệu chỉnh ( R2adjust) được thể hiện ở dòng cuối cùng của Bảng 4. Hệ số này tương đối nhỏ và cũng theo xu hướng của các mô hình hồi quy đa hợp của Muller và cộng sự, 2016; Dumuid và cộng sự, 2018.

Bảng 4: Hệ số hồi quy của mô hình đa hợp (1) tương ứng với biến ILR

Mức độ ý nghĩa *10%, **5%, ***1%.

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu

Như vậy, có 6 nhân tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến cơ cấu chi tiêu của khách du lịch nội địa, gồm: (i) Mục đích chuyến đi; (ii) Số lần du lịch tại điểm đến; (iii) Tham khảo thông tin từ bạn bè, người thân; (iv) Tham khảo thông tin từ internet; (v) Phương tiện chính trong chuyến đi; và (vi) sự ấn tượng tốt với phong cảnh đẹp tại điểm tham quan du lịch.

Mục đích chuyến đi có ảnh hưởng rất lớn và ý nghĩa đến cơ cấu chi tiêu của khách nội địa. So sánh với khách đi du lịch với mục đích tham dự hội nghị, hội thảo, khách đi du lịch với các mục đích thăm hộ hàng, bạn bè du lịch nghỉ ngơi, tham quan và vui chơi giải trí, thương mại và các mục đích khác có xu hướng tăng chi tiêu tỷ lệ chi tiêu cho khoản mục Hoạt động - Đi lại so với Thức ăn - Ăn uống. Chi tiết hơn, so sánh giữa hai phân tổ, khách đi du lịch không du lịch với mục đích tham dự hội nghị, hội thảo có xu hướng chi tiêu nhiều cho khoản mục Hoạt động hơn khoản mục Đi lại và đồng thời chi tiêu nhiều hơn cho khoản mục Ăn uống hơn khoản mục Chỗ ở.

Với các khách nội địa đến địa điểm du lịch từ lần thứ 3 trở lên so với khách đến địa điểm lần đầu, họ có xu hướng giảm chi tiêu cho nhóm Ăn uống và Chỗ ở và tăng chi tiêu cho nhóm Hoạt động – Đi lại. Không có sự khác biệt giữa các phân tổ tiếp theo. Khách du lịch đã tham khảo bạn bè, người thân và internet có xu hướng ngược với khách du lịch đã từng tham nhiều lần, khách vẫn tăng tỷ lệ chi tiêu cho Hoạt động – Đi lại trong khi giảm mức chi cho Chỗ ở và Ăn uống. Đặc điểm này rất quan trọng, cho thấy khách du lịch có tìm hiểu trước điểm đến đã có kế hoạch tốt hơn cho chỗ ở và thưởng thức các món ăn đặc sản với giá hợp lý, hoặc giảm các chi phí Ă uống và Chỗ ở để dành nhiều hơn cho Hoạt động.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu của khách du lịch nội địa đi theo hình thức tự túc năm 2013. Nghiên cứu cho thấy, đặc điểm nhân khẩu học không có ý nghĩa thống kê đến cơ cấu chi tiêu. Các nhân tố có ý nghĩa thống kê đến cơ cấu chi tiêu của khách là: Địa điểm đến; Mục đích chuyến đi; Các nguồn thông tin tham khảo trước chuyến đi; Số lần tham quan điểm đến; Phương tiện di chuyển; và Ấn tượng phong cảnh của điểm đến. Trong đó, Mục đích chuyến đi thể hiện sự khác biệt và dao động lớn đến cơ cấu chi tiêu. Qua đó cho thấy, cần tăng thêm các hoạt động giải trí để kích thích chi tiêu. Nghiên cứu có tính thời sự hơn nếu được tiến hành trên số liệu cập nhật hơn.

Nghiên cứu này nên tiếp tục phát triển với khách quốc tế đến Việt Nam và có thể so sánh các đặc điểm của khách quốc tế và nội địa để định hướng chiến thuộc thu hút khách du lịch của các địa điểm./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tổng cục Thống kê (2013). Quyết định 650/QĐ-TCTK, ngày 25/06/2013 về việc tiến hành Điều tra chi tiêu của khách du lịch năm 2013 và Phương án Điều tra chi tiêu của khách du lịch năm 2013

2. Tổng cục Thống kê (2014). Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch 2013, Nxb Thống kê

3. Dumuid, D., Stanford, T.E., Martin - Fernández, J.A., Pedišić, Ž., Maher, C.A., Lewis, L.K., Hron, K., Katzmarzyk, P.T., Chaput, J.P., Fogelholm, M. and Hu, G. (2018). Compositional data analysis for physical activity, sedentary time and sleep research, Statistical methods in medical research, 27(12), 3726-3738

4. Egozcue, J.J., Pawlowsky-Glahn, V., Mateu-Figueras, G. and Barcelo-Vidal, C. (2003). Isometric logratio transformations for compositional data analysis, Mathematical Geology, 35(3), 279-300

5. Ferrer-Rosell, B., Coenders, G. and Martínez-Garcia, E. (2015). Determinants in tourist expenditure composition - The role of airline types, Tourism Economics, 21(1), 9-32

6. Ferrer - Rosell, B., Coenders, G., Mateu - Figueras, G. and Pawlowsky -Glahn, V. (2016a). Understanding low-cost airline users' expenditure patterns and volume, Tourism Economics, 22(2), 269-291

7. Ferrer - Rosell, B., Coenders, G. and Martínez - Garcia, E. (2016b). Segmentation by tourist expenditure composition: an approach with compositional data analysis and latent classes, Tourism analysis, 21(6), 589-602

8. Ferrer - Rosell, B. and Coenders, G. (2017). Airline type and tourist expenditure: Are full service and low cost carriers converging or perging?, Journal of Air Transport Management, 63, 119-125

9. Ferrer - Rosell, B. and Coenders, G. (2018). Destinations and crisis. Profiling tourists' budget share from 2006 to 2012, Journal of destination marketing & management, 7, 26-35

10. Morais, J., Thomas - Agnan, C. and Simioni, M. (2018). Using compositional and Dirichlet models for market share regression, Journal of Applied Statistics, 45(9), 1670-1689

11. Muller, I., Hron, K., Fiserova, E., Smahaj, J., Cakirpaloglu, P. and Vancáková, J. (2016). Interpretation of compositional regression with application to time budget analysis, arXiv preprint arXiv:1609.07887

12. Pawlowsky - Glahn, V. and Buccianti, A. (2011). Compositional data analysis, Wiley

Summary

The study introduces and utilizes new theory - Compositional data analysis (CODA) method to assess factors affecting expenditure structure at national level of domestic tourists in Vietnam, including tourist destinations, sources of pre-trip information and demographic characteristics of tourists. Due to difficulties in accessing data, the assessments are based on data taken from the 2013 Tourism Expenditure Survey conducted by the General Statistics Office.

Keywords: expenditure structure, tourism, domestic tourists

(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 9 tháng 3/2020)