ThS. Phạm Phú Thái

Khoa Tài Chính - Kế Toán – Trường Đại học Đông Á

TÓM TẮT:

Bài viết nghiên cứu tác động của các hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đến hiệu quả của hoạt động này. Trên cơ sở kiểm định mẫu khảo sát điều tra 162 bảng hỏi các chuyên gia, lãnh đạo NHTM, kết quả nghiên cứu định lượng đã cho thấy cả 4 hoạt động QLNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đều có tác động tích cực đến hiệu quả QLNN đối với nợ xấu của NHTM, gồm: (i) Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM; (ii) Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM; (iii) Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các NHTM; (iv) Xử lý các NHTM khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng.

Từ khóa: QLNN, hiệu quả QLNN, nợ xấu, NHTM Việt Nam

GIỚI THIỆU

Nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam tồn tại từ nhiều năm trước và có xu hướng tăng mạnh từ sau cuộc khủng hoảng năm 2008. Năm 2012, theo công bố từ Cơ quan giám sát ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu đạt mức 8,6%, trong khi đó, theo số liệu của Fitch Rating, tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam đạt 13% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên, năm 2014, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống NHTM Việt Nam đã giảm dần. Năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống là 1,89% (giảm so với mức 2,46% cuối năm 2016 và 1,99% cuối năm 2017). Đây là mức thấp nhất kể từ năm 2012 và đã về dưới ngưỡng mục tiêu 2% theo Nghị quyết 01/NQ-CP, ngày 01/01/2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019.

Điều này cho thấy, tầm quan trọng của quản lý của NHNN đối với nợ xấu trong hệ thống NHTM nhằm đảm bảo an toàn hệ thống (NHNN, 2010-2018). Thực tế cho thấy, NHNN đã xử lý khá thành công đối với nợ xấu của các NHTM; tuy nhiên, khả năng quản lý nợ xấu, đặc biệt là việc nhận dạng, xác định nguy cơ và ngăn ngừa trước nguy cơ, của NHNN vẫn còn hạn chế.

Nhằm làm rõ vai trò của hoạt động QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM, tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng hồi quy tác động của các hoạt động quản lý của NHNN đến hiệu quả của hoạt động này; từ đó làm rõ tầm quan trọng của từng hoạt động của NHNN trong quản lý nợ xấu của hệ thống NHTM tại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nội dung QLNN của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM

Hoạt động quản lý của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM thể hiện qua các nội dung chính sau đây:

Một là, xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM

(i) NHNN quản lý hoạt động của các ngân hàng thông qua việc thực hiện thể chế và chính sách tiền tệ nhằm xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của các NHTM. Hệ thống chính sách và thể chế này sẽ giúp đảm bảo công bằng, bình đẳng cho sự hoạt động của các NHTM, tạo môi trường kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh nhằm đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế và đảm bảo đời sống của nhân dân (Lê Ngọc Lân, 2011; Ghosh Amit, 2017).

(ii) NHNN quản lý các hoạt động tín dụng của hệ thống các NHTM thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chương trình phát triển hoạt động xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chương trình phát triển hoạt động có vai trò hướng dẫn, định hướng và điều chỉnh các hoạt động tín dụng của các NHTM, nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của từng ngân hàng (Thakor Anjan V, 2019).

(iii) Định hướng và chiến lược điều chỉnh cơ cấu các NHTM. Theo Nguyen Thi Thieu Quang và cộng sự (2019), biện pháp khắc phục và giảm thiểu nợ xấu tốt nhất và triệt để nhất chính là cơ cấu lại hệ thống các NHTM trên cơ sở sáp nhập, mua lại hoặc giải thể các NHTM hoạt động yếu kém (Phạm Tiên Phong và cộng sự, 2014).

Hai là, ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM

(i) Phân loại nợ: Để nhận biết nợ và có phương pháp phù hợp nhằm quản lý nợ hiệu quả, trong các thông tư do NHNN ban hành có quy định và hướng dẫn về việc phân loại nợ (Trịnh Thị Thủy, 2015; Baudino và Yun, 2017). Nợ tín dụng tại các NHTM được phân loại theo hai phương pháp gồm phương pháp định lượng và phương pháp định tính.

(ii) Đo lường nợ xấu: Việc đo lường nợ xấu được thực hiện theo hai phương pháp, gồm định tính và định lượng. Đo lường nợ xấu theo phương pháp định lượng có nghĩa là các NHTM xác định xác suất vỡ nợ và các thiệt hại do việc không thu hồi được khoản nợ đó gây ra. Phương pháp định lượng căn cứ vào phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ cơ bản (F-IRB) để đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng (BIS, 2005).

(iii) Mô hình xếp hạng tín dụng (chấm điểm tín dụng): Các NHTM đánh giá và xếp hạng khách hàng vay vốn tín dụng theo mức độ rủi ro tín dụng từ thấp đến cao. Trong đó, khách hàng được xếp hạng rủi ro tín dụng thấp nhất thì có chất lượng tín dụng tốt nhất và khách hàng được xếp hạng rủi ro tín dụng cao nhất là những đối tượng khách hàng có chất lượng tín dụng thấp nhất, bị thua lỗ kéo dài, có khoản nợ khó đòi và hầu như khả năng không thu hồi được vốn tín dụng là rất cao (Hu và Chiu, 2006),

(iv) Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Trên cơ sở chấm điểm và xếp hạng tín dụng, các NHTM thực hiện phân loại nợ, tổng hợp danh sách các khách hàng có rủi ro vỡ nợ cao nhất, từ đó trích lập đủ dự phòng và sử dụng khoản dự phòng này vào việc xử lý rủi ro tín dụng (Nguyễn Đức Tú, 2012). Tỷ lệ trích lập dự phòng tùy thuộc vào việc khoản nợ đó thuộc nhóm nào. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tỷ lệ dự phòng đối với các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 lần lượt là 20%, 50% và 100%.

Ba là, tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các NHTM.

Các công cụ để NHNN thực hiện quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng và xử lý nợ xấu của các NHTM bao gồm: các kế hoạch và chiến lược phát triển và tín dụng do các NHTM tự lập ra và cam kết thực hiện; luật và các văn bản quy phạm pháp luật, như: nghị định, quyết định, thông tư của các cơ quan nhà nước và do NHNN ban hành; hệ thống thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM có hiệu quả và nghiêm minh và các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc quản lý và giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM (García, Giménez và Guijarro, 2013; Lê Ngọc Lân, 2011).

Bốn là, xử lý các NHTM khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng

Việc kiểm soát và xử lý các NHTM có nợ xấu cần được tiến hành ngay từ đầu và xuyên suốt quá trình hoạt động của các ngân hàng: Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng có nhiệm vụ chỉ đạo và hướng dẫn các NHTM xây dựng và triển khai phương án tái cơ cấu gắn liền với xử lý nợ xấu sao cho phù hợp với định hướng và mục tiêu phát triển riêng của từng ngân hàng. Các NHTM cần chủ động xây dựng phương án phòng ngừa và hiệu quả cấp tín dụng cho khách hàng, phương án nâng cao năng lực quản lý và củng cố nội lực (tài chính, nhân lực, công nghệ) và các phương án xử lý nợ xấu hiệu quả (García, Giménez và Guijarro, 2013).

Xử phạp hành chính đối với các NHTM có hành vi vi phạm luật về cấp tín dụng và quản lý nợ xấu: Sau khi được hướng dẫn cụ thể bởi các văn bản hướng dẫn luật và sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước, trong trường hợp các NHTM cố tình vi phạm các quy định của pháp luật về việc cho vay và quản lý nự xấu, khi có phát hiện sai phạm, căn cứ vào tùy từng mức độ vi phạm mà các NHTM sẽ phải xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng (Anastasiou, 2016). Nếu các NHTM có hành vi che giấu nợ xấu, phản ánh và báo cáo sai lệch chất lượng chất lượng chất lượng tín dụng và kết quả hoạt động tín dụng và kết quả hoạt động tín dụng của mình, cơ quan thanh tra sẽ có giải pháp xử lý và xử phạt theo quy định của pháp luật.

Tái cơ cấu hệ thống các NHTM: Sau khi có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, nếu NHTM vẫn tiếp tục không thể xử lý nợ xấu trong khuôn khổ cho phép của pháp luật, các NHTM có năng lực hoạt động yếu kém sẽ được liệt kê vào danh sách các NHTM cần được tái cơ cấu. Việc cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu theo từng giai đoạn đều được quy định rõ trong các văn bản quy định pháp luật, như: nghị định, nghị quyết và thông tư do các cơ quan nhà nước và NHTM ban hành (Ghosh, 2017; Trịnh Thị Thủy, 2015).

Nâng cao năng lực tài chính, quản trị và điều hành của các NHTM: NHNN chỉ đạo các NHTM tự xây dựng và cải thiện nguồn vốn tự có của mình để đảm bảo nguồn vốn điều lệ luôn bằng hoặc cao hơn so với mức vốn pháp định và chuẩn mực quốc tế hoặc theo chuẩn mực cuat Hiệp ước Basel II nhằm nâng cao năng lực tài chính, chuyển đổi mô hình kinh doanh, quản trị và điều hành của các NHTM (Ghosh, 2017). Bên cạnh đó, NHNN cũng có nhiệm vụ hướng dẫn các NHTM xây dựng chiến lược và triển khai lộ trình tăng nguồn vốn tự có của mình thông qua các nguồn khác nhau, triển khai đồng bộ và quyết liệt các biện pháp nhằm xử lý triệt để nự xấu ngay từ thời điểm cấp tín dụng.

Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng 4 tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam. Cụ thể gồm:

Thứ nhất là tính hiệu lực hay tuân thủ - đây là tiêu chí chỉ mức độ pháp luật được tuân thủ và mức độ hiện thực quyền lực chỉ huy và phục tùng trong mối quan hệ giữa Nhà nước với các NHTM liên quan đến quản lý nợ xấu trong những điều kiện nhất định.

Thứ hai là tính hiệu quả, thể hiện qua đánh giá về sự tương quan giữa chi phí của hoạt động QLNN với chất lượng QLNN đề ra đối với nợ xấu của NHTM.

Thứ ba là hiệu suất hay tính khả thi, thể hiện qua mức độ hoàn thành kế hoạch chiến lược đề ra của hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM.

Thứ tư là sự phù hợp, bao gồm sự phù hợp của các mục tiêu định hướng quản lý nợ xấu; sự phù hợp trong quy định của pháp luật liên quan; phù hợp về nội dung, phương pháp điều hành; sự phù hợp về nội dung, phương thức, hình thức, kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý nợ xấu của các NHTM.

Đề xuất mô hình, giả thiết và thang đo nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết đã trình bày nói trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Tác giả đề xuất 04 giả thuyết nghiên cứu như sau:

H1: Môi trường pháp lý đồng bộ và phù hợp được NHNN xác lập và điều tiết đối với hoạt động tín dụng của NHTM có quan hệ cùng chiều tích cực với hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM.

H2: Các chuẩn mực nợ xấu do NHNN quy định và ban hành kịp thời và phù hợp đối với NHTM có quan hệ cùng chiều tích cực đối với hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM.

H3: Chất lượng tổ chức kiểm tra, giám sát của NHNN đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của NHTM có quan hệ cùng chiều tích cực đối với hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM.

H4: Hoạt động xử lý nghiêm khắc của NHNN đối với các NHTM có với nợ xấu vượt ngưỡng cho phép có quan hệ cùng chiều tích cực đối với hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM.

Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu đã có, tác giả hoàn thiện mô hình nghiên cứu lý thuyết và chuẩn hóa các biến quan sát cũng như bộ thang đo các biến (Items). Kết quả mô hình chính thức gồm 35 biến quan sát của 4 biến độc lập tương ứng với bốn hoạt động QLNN chủ đạo của NHNN đối với nợ xấu của NHTM và 3 biến quan sát của biến phụ thuộc về hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM.

Phương pháp nghiên cứu

Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành một cuộc khảo sát điều tra 200 bảng hỏi qua email và bưu điện từ tháng 01 đến tháng 02/2020 về thực trạng QLNN đối với nợ xấu của các NHTM Việt Nam và các yếu tố tác động đến hoạt động này. Đối tượng tham gia khảo sát điều tra là các nhà lãnh đạo NHTM Việt Nam đang nắm giữ các vị trí: chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng quản trị; thành viên ban kiểm soát; tổng giám đốc, phó tổng giám đốc; lãnh đạo ban/khối quản trị rủi ro, pháp chế và quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC). Quy mô khảo sát điều tra bao gồm tất cả 35 NHTM Việt Nam.

Sau khi thu thập các bảng hỏi trả lời, tác giả xử lý loại bỏ các bảng hỏi không hợp lệ, thiếu thông tin hoặc sai đối tượng. Kết quả cuối cùng còn 162 bảng hỏi hợp lệ phục vụ nghiên cứu này. Dữ liệu khảo sát điều tra sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý bằng Excel và SPSS.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phân tích hồi quy bội

Kết quả phân tích hồi quy bội theo phướng pháp Enter được mô tả chi tiết trong Bảng.

Bảng: Kết quả phân tích hồi quy bội

Nguồn: Kết quả nghiên cứu trích xuất từ SPSS

Kết quả ở Bảng 1 cho phép tác giả kết luận như sau:

- Hệ số VIF đều < 4; khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình hồi quy bội. Như vậy, kết quả giải thích và dự báo của mô hình hồi quy bội không bị làm sai lệch bởi sự tương quan không đáng kể giữa các biến độc lập.

- Hệ số R2 = 63,90% (> 50%) có nghĩa mô hình hồi quy bội giải thích hay phản ảnh được 63,90% thực tế hay tổng thông tin của 4 biến độc lập đưa vào mô hình. Kết quả này cho phép khẳng định mô hình hồi quy bội này phù hợp với bộ dữ liệu đã thu thập và phản ảnh đảm bảo thực tế nghiên cứu về thực trạng quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam.

- Đại lượng thống kê F = 47,491 với Sig. = 0,000. Điều này cho thấy mô hình hồi quy có ý nghĩa về mặt tổng thể, có thể sử dụng để giải thích và dự báo được thực tế về tác động của các nội dung quản lý của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM đến hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM Việt Nam.

- Các biến độc lập trong mô hình hồi quy bội đều có tác động đáng kể đến biến phụ thuộc với các giá trị Sig. thu được đều nhỏ hơn 0,05%. Nói cách khác, các biến độc lập trong mô hình hồi quy bội đều có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 99%.

- Trong 03 biến kiểm soát Q3 (Tuổi hay thâm niên hoạt động của NHTM), Q5 (Quy mô nhân sự), Q6 (Quy mô vốn điều lệ), chỉ có thâm niên hoạt động của NHTM có tác động đáng kể đến biến phụ thuộc. Như vậy, các NHTM hoạt động càng lâu, càng có kinh nghiệm thì càng nắm bắt được tình hình tín dụng và nợ xấu cũng như nghiêm túc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động QLNN, nhờ vậy mà hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM càng được nâng cao.

Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả phân tích hồi quy bội, tác giả tiến hành kiểm định các giả thuyết đối với từng biến độc lập, cụ thể:

Biến X1 - Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM có tác động tích cực cùng chiều (B = 0,267) đến hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM Việt Nam với ngưỡng tin cậy 99% (Sig. = 0,000). Như vậy, kết quả này khẳng định giả thuyết 1: Môi trường pháp lý được NHNN xác lập và điều tiết đối với hoạt động tín dụng của NHTM càng đồng bộ và phù hợp, thì hiệu quả hoạt động QLNN về nợ xấu của NHTM càng cao.

Biến X2 - Các quy định về chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM, đạt giá trị B = 0,149 và Sig. = 0,007, thể hiện mối quan hệ tích cực cùng chiều giữa biến này với hiệu quả hoạt động QLNN về nợ xấu của NHTM với ngưỡng tin cậy 99%. Kết quả này khẳng định giả thuyết 2: Các chuẩn mực nợ xấu do NHNN quy định và ban hành kịp thời và phù hợp đối với NHTM có quan hệ cùng chiều tích cực đối với hiệu quả hoạt động QLNN về nợ xấu của NHTM.

Biến X3 - Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của NHTM có tác động tích cực cùng chiều (B = 0,174) đến hiệu quả hoạt động QLNN về nợ xấu của NHTM với ngưỡng tin cậy 99% (Sig. = 0,001), qua đó khẳng định giả thuyết 3 đúng. Cụ thể, chất lượng tổ chức kiểm tra, giám sát của NHNN đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của NHTM càng tốt thì hiệu quả hoạt động QLNN đối với nợ xấu của NHTM càng cao.

Biến X4 - Hoạt động xử lý các NHTM khi có với nợ xấu vượt ngưỡng cho phép, đạt giá trị B = 0,278 và Sig. = 0,000, thể hiện mối quan hệ tích cực cùng chiều giữa biến này với hiệu quả hoạt động QLNN về nợ xấu của NHTM với ngưỡng tin cậy 99%. Như vậy, giả thuyết 4 được khẳng định đúng: hoạt động xử lý các NHTM khi có với nợ xấu vượt ngưỡng cho phép càng hiệu quả, thì hiệu quả hoạt động QLNN về nợ xấu của NHTM càng cao.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, cả 4 hoạt động QLNN của NHNN, gồm: (i) Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM; (ii) Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM; (iii) Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các NHTM và (iv) Xử lý các NHTM khi có với nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng đều có tác động tích cực đến hiệu quả QLNN đối với nợ xấu của NHTM. Kết quả nghiên cứu định lượng góp phần khẳng định vai trò của NHNN nói chung và mỗi hoạt động QLNN của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngân hàng Nhà nước (2010-2018). Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2010-2018

2. Lê Ngọc Lân (2011). Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng của các NHTM ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội

3. Nguyễn Đức Tú (2012). Quản lý rủi to tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

4. Phạm Tiên Phong và các cộng sự (2014). Xây dựng khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cho hệ thống tài chính Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số DTNH.07/2014, Ngân hàng Nhà nước

5. Trịnh Thị Thủy (2015). QLNN đối với các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

6. Baudino Patrizia, Yun Hyuncheol (2017). Resolution of non-performing loans – policy options, FSI insights on policy implementations, No 3, Bank for International Settlements

7. BIS (2005). An Explanatory Note on the Basel II IRB Risk Weight Functions, Basel Committee on Banking Supervision

8. García Fernando, Giménez Vicente, Guijarro Francisco (2013). Credit risk management: A multicriteria approach to assess creditworthiness, Mathematical and Computer Modelling, Volume 57, Issues 7–8, April 2013, pages 2009-2015

9. Ghosh Amit (2017). Sector-specific analysis of non-performing loans in the US banking system and their macroeconomic impact, Journal of Economics and Business, Volume 93, September - October 2017, pages 29-45

10. Hu Yung-Ho, Chiu Yang Li (2006). Ownership and Non – performing Loans: Evidence from Taiwan’s Banks, The Developing Economies, XLII-3 (September 2004), 405–420

11. Nguyen Thi Thieu Quang, Gan Christopher, Li Zhaohua (2019). Bank capital regulation: How do Asian banks respond?, Pacific-Basin Finance Journal, Volume 57, October 2019, 101-196

12. Thakor Anjan V. (2019). Politics, credit allocation and bank capital requirements, Journal of Financial Intermediation, access to doi:https://doi.org/10.1016/j.jfi.2019.03.005

13. Trueck Stefan, Svetlozar Rachev T. (2008). Rating Based Modeling of Credit Risk: Theory and Application of Migration Matrices, Academic Press; 1 edition

Summary

This paper examines the impact of state management on the bad debts of Vietnamese commercial banking system. Based on 162 questionnaires to experts and leaders of commercial banks, the research employs quantitative method and finds out all four activities of State Bank’s state management creating positive impacts on the effectiveness of state management on bad debts, including: (i) Creating a legal environment for commercial banks' credit activities; (ii) Promulgating standards of bad debts in credit activities of commercial banks; (iii) Inspection and supervision of credit activities and bad debts of commercial banks; (iv) Dealing with commercial banks when bad debts exceed.

Keywords: state management, efficiency of state management, bad debt, Vietnamese commercial banks


(Đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 15 tháng 5/2020)