Cập nhật ngày 22/04/2016 - 16:06:58

           

Thấy gì sau sự giảm sút tốc độ tăng trưởng quý I/2016?

- Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố, tăng trưởng kinh tế quý I/2016 ước đạt 5,46%, cùng kỳ năm 2015 là 6,12% (cùng kỳ 2015) và cùng kỳ năm 2011 là 5,9% (năm đầu của kế hoạch 5 năm lần trước). Biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến việc GDP sụt giảm tăng trưởng trong quý I/2016 là thế nào?

Bức tranh suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2016 

Chi tiết bức tranh suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2016 so với cùng kỳ các năm trước được thể hiện qua Bảng 1.

 

Bảng số liệu trên cho thấy:

 (1) Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2016 có dấu hiệu sụt giảm sau 5 năm có xu hướng tăng liên tục. Mức tăng trưởng GDP quý I/2016 không chỉ thấp hơn năm 2015, mà còn thấp hơn năm 2011 (chỉ bằng 90%) – năm đầu tiên của giai đoạn suy giảm tăng trưởng (2011-2015), bằng 80% tốc độ tăng trưởng năm 2015 và thấp hơn mức trung bình giai đoạn 2011-2015 (là 5,91%). Nếu sử dụng phương pháp ngoại suy giai đoạn 2011-2015, với tốc độ tăng trưởng quý I chỉ đạt 5,46%, thì dự báo con số tăng trưởng cả năm 2016 sẽ khó đạt chỉ tiêu đặt ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 (6,7%-6,8%).

(2) Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2016 giảm mạnh ở 2 nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp. Ngành nông nghiệp tăng trưởng âm, còn công nghiệp chỉ còn ¾ so với cùng kỳ năm 2015. Kết quả này đã làm cho đóng góp của 2 ngành này trong cấu trúc tăng trưởng theo ngành giảm sút: ngành nông nghiệp đã làm giảm số điểm phần trăm tăng trưởng toàn nền kinh tế, còn ngành công nghiệp, thì chỉ đóng góp 2,3 điểm phần trăm tăng trưởng, tương đương với 42% (giảm sút không chỉ so với  2015 mà cả những năm khác của thời kỳ 2011-2015).

(3) Quý I/2016, tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP cao hơn so với quý I/2015 (32% và 30,5%). Trong khi đó tăng trưởng lại chậm hơn so với năm quý I/2015, đã làm cho đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng tăng lên và đóng góp của TFP giảm xuống trong cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào.

(4) Với tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ cao nhất so với cùng kỳ 4 năm trở lại đây (6,13%), nên cơ cấu ngành kinh tế có sự thay đổi: tỷ trọng dịch vụ có biểu hiện tăng lên so với cùng kỳ năm 2015 (43,61% so với 42,14%), trong khi đó tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp giảm đi (các số liệu tương ứng là 34,24% và 11,44%) so với mức của quý I/2015 (34,9% và 12,35%). Tuy nhiên, một bất cập ở đây là tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên chủ yếu lại do có sự tăng giá của một số dịch vụ công và việc tăng lương cho công nhân khu vực sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, một số ngành dịch vụ mang tính thị trường và dịch vụ chất lượng cao đều có tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức trung bình của toàn ngành dịch vụ: dịch vụ du lịch, lưu trú, khách sạn nhà hàng: 4,75%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: 5,9%; bất động sản: 3,43%; vận tải: 5,5%.

5 yếu tố gây giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế

Một là, công nghiệp chế biến, chế tạo (là ngành động lực tăng trưởng mạnh nhất) bị suy giảm nghiêm trọng

Quý I/2016, ngành công nghiệp tăng trưởng 6,2%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,27% của cùng kỳ năm trước. Điều đáng nói là sự giảm sút tốc độ tăng trưởng của ngành chế biến chế tạo (ngành động lực tăng trưởng lớn nhất của năm 2015, tăng trưởng đạt tới xấp xỉ 10%), trong 3 tháng đầu năm 2016 chỉ đạt 7,9%. Sự giảm sút tăng trưởng tập trung vào những ngành sản phẩm công nghiệp chế biến ở các doanh nghiệp nội địa, như: chế biến lương thực, thực phẩm (đạt tăng trưởng 7% so với mức tăng trưởng chung là 7,9% và so với cùng kỳ năm 2015 đạt 8,2%); sản xuất phân bón hóa chất (4,2%); nhiều ngành sản phẩm tăng trưởng âm, như: dệt vải: -2,3%; quần áo, giầy dép: -3,1%; thuốc lá: -5,3%. Thủy, hải sản chế biến và may mặc tăng 5,3%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 4,1%; than đá tăng 1%; giày, sản xuất sản phẩm từ da: -3,7%; đường kính: -3,9%; xe máy -3,6%; thuốc lá -5,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo -6,3%; điện thoại di động -17,6%.

 

Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn về nguyên liệu, giá cả đầu vào và năng lực cạnh tranh yếu, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong quý I/2016, đã có tới 20045 doanh nghiệp phải ngừng hoạt động (so với cùng kỷ 2015 là 18.700 doanh nghiệp). Theo kết quả điều tra mới nhất của Tổng cục Thống kê, có tới 27,1% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn toàn diện; 29,5% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm; 27,1% doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm; 24,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm; 16,2% số doanh nghiệp khẳng định giảm lượng lao động sử dụng.

Hai là, khu vực FDI có dấu hiệu thiếu khởi sắc

Đầu năm 2016, thế giới có nhiều khó khăn và bất lợi, nhất là đối với các nước đang phát triển do giá nguyên liệu thô có xu hướng giảm, trong khi đó các đối tác đầu tư nước ngoài của Việt Nam chủ yếu vẫn là từ các nước mới nổi, đầu tư khai thác tài nguyên và gia công chế biến. Với tính chất như vậy, khu vực FDI trong 3 tháng đầu năm có những dấu hiệu thiếu khởi sắc. Các sản phẩm công nghiệp khai thác và gia công thực hiện tại các doanh nghiệp FDI (là động lực mạnh nhất tạo tăng trưởng nhanh cho năm 2015) lại có tốc độ tăng trưởng âm hoặc tăng chậm hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm dầu thô tăng trưởng: -4%; điện thoại di động: -17,6% (năm 2015 tăng trưởng 40%); lắp ráp tivi  tăng trưởng 43,6% (cùng kỳ năm trước tăng 68%): ô tô tăng trưởng 22,3% (năm 2015 đạt 57,3%). Mặt khác sự thiếu khởi sắc thể hiện trong sự giảm sút tăng trưởng xuất nhập khẩu từ các doanh nghiệp FDI (Hình 2).

 

Quý I/2016, kim ngạch xuất khẩu từ các doanh nghiệp FDI chỉ đạt đạt 27,1 tỷ USD, tăng 5,8%. Trong khi đó, nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22,2 tỷ USD, giảm 5,7%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I năm nay đạt 40,7 tỷ USD, chỉ tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2015. Trong khi đó năm 2015 tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều (các số liệu tương ứng đạt tới 18,5%, và 16,4%).  Sự kém khởi sắc của khu vực FDI đã làm cho “đoàn tầu” kinh tế của Việt Nam, mặc dù vẫn trong trạng thái đi lên, nhưng tốc độ giảm đi đáng kể.      

Ba là, ngành nông nghiệp gặp nhiều khó khăn gây hậu quả “kép” về suy giảm tăng trưởng

Ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản, sau nhiều năm liên tục tốc độ tăng trưởng giảm sút (theo dõi qua hình dưới), đến quý I/2016 tăng trưởng -1,23%, làm giảm 0,16 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung toàn nền kinh tế.

 

Điều đáng nói ở đây là lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá (6,3% và 2,3%), chỉ có ngành nông nghiệp (bao gồm: trồng trọt và chăn nuôi) là tăng trưởng -2,5%. Tuy nhiên, do đây là ngành chiếm giá trị sản xuất cao nhất nên chi phối sự giảm sút tăng trưởng của toàn ngành. Ngoài lý do rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc ảnh hưởng đến trồng trọt và chăn nuôi ở các khu vực này, thì điều quan trọng là ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (khu vực động lực tăng trưởng lớn nhất đối với ngành nông nghiệp cả nước) gây hạn hán và xâm nhập mặn. Ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm nên dòng chảy bị thiếu hụt, mực nước sông Mê Kông xuống mức thấp nhất trong gần một thế kỷ qua. Tình trạng xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn cùng kỳ năm trước với độ mặn trên các sông chính tăng cao, thấm sâu vào đất liền 40-60 km. Đến thời điểm hiện nay, toàn bộ các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã bị xâm nhập mặn. Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của 426.000 hộ gia đình, làm 172.600 ha lúa, 8.000 ha hoa màu, 41.500 ha cây ăn quả và 3.500 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng.

Tăng trưởng âm đối với ngành nông nghiệp đã gây hậu quả “kép”, một mặt, làm cho chính ngành nông – lâm – thủy sản bị giảm sút; mặt khác, gây ảnh hưởng xấu cho các doanh nghiệp công nghiệp nội địa chế biến nông sản và giảm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ nông sản, vốn chiếm tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu nội địa của Việt Nam.

Bốn là, những biểu hiện xấu đi của yếu tố thương mại quốc tế

Tính chung quý I năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 37,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức 8,5% đạt được năm 2015, và là mức đạt được thấp nhất trong 5 năm trở lại đây). Khu vực kinh tế trong nước đạt 10,8 tỷ USD, tăng 0,3%. Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 27,1 tỷ USD, tăng 5,8% (năm 2015 đạt 18,5%). Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I ước tính đạt 37,1 tỷ USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước (năm 2015 đạt 12%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,9 tỷ USD, giảm 3,5% (năm 2015 tăng 6,3%); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22,2 tỷ USD, giảm 5,7%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I năm nay đạt 40,7 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2015 (năm 2015 tăng 18,9%). Tính chung quý I/2016 xuất siêu 776 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,05 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,83 tỷ USD. Chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đã làm giảm 1,49 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung nếu nhìn từ góc độ chi tiêu. 

Nguyên nhân thương mại quốc tế 3 tháng đầu năm giảm sút khá lớn xuất phát từ: (i) Những khó khăn của kinh tế thế giới nói chung, các nước đang phát triển nói riêng, ảnh hưởng lớn của giảm sút giá dầu mỏ và nguyên liệu thô; (ii) Sự giảm sút tăng trưởng của các ngành nông, lâm, thủy sản và khai thác dầu đã ảnh hưởng đến xuất khẩu 2 nhóm sản phẩm chiếm 60%-70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam; (iii) Những khó khăn trong phát triển kinh tế của những thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, đó là: ASEAN, Nhật Bản và Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN và Nhật Bản giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó ASEAN đạt 4,2 tỷ USD, giảm 9,9%; Nhật Bản đạt 3,2 tỷ USD, giảm 0,4%. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong quý I với 10,4 tỷ USD, giảm 8% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu từ thị trường ASEAN đạt 5,4 tỷ USD, giảm 5,8%.

Năm là, sự giảm sút trên bình diện hiệu quả tăng trưởng

Trước hết, đó là sự giảm sút hiệu quả của sử dụng vốn đầu tư. Quý I/2016, tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP chiếm 32,2% và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tăng trưởng GDP chỉ đạt 5,46%. Như vậy, suất đầu tư tăng trưởng 3 tháng đầu năm 2016 lên tới 5,98 (cao nhất trong toàn giai đoạn 2011 đến nay) (Hình 4).

  

Sự giảm sút hiệu quả đầu tư thể hiện ở cả 3 khu vực kinh tế. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư quý I đều cao ở cả 3 khu vực kinh tế (khu vực nhà nước: 9,2%, khu vực ngoài nhà nước: 11,5% và khu vực FDI đạt 13,5%), trong khi đó, tốc độ tăng trưởng nhận được thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng vốn đầu tư (tương ứng từng khu vục là 3,8%, 5,3% và 6,6%). Đặc biệt, khu vực FDI tốc độ tăng vốn tới 13,5%, nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lại chỉ đạt được con số thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm trước (chỉ đạt 5,8% so với mức 18,5% năm 2015).

Tiếp theo, hiệu quả sử dụng lao động cũng có phần giảm sút. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 3 tháng đầu năm 2016 tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động đạt 1,45%, tăng trưởng GDP đạt 5,46%, như vậy có thể xác định tốc độ tăng trưởng năng suất lao động quý I/2016 đạt xấp xỉ 4%, con số này thấp hơn nhiều so với năm 2015 và 2014 (tốc độ tăng trưởng năng suất lao động tương ứng đạt 6,4% và  4,91%), thấp hơn mức trung bình giai đoạn 2011-2015 (đạt 4,43%).    

Dự báo sơ bộ tăng trưởng năm 2016

Dựa theo phương pháp ngoại suy trên cơ sở những diễn biến tăng trưởng kinh tế quý I của giai đoạn từ 2010-2015 thể hiện qua Bảng 2.

 

Như vậy, bình quân giai đoạn từ 2010 đến 2015, tốc độ tăng trưởng GDP của quý I thường đạt xấp xỉ 90% mức tăng trưởng đạt được cả năm. Từ con số mang tính xu hướng này có thể ước tăng trưởng GDP cả năm 2016 sẽ chỉ có thể đạt mức từ 6,1%-6,2% (so với mục tiêu đặt ra 6,7%-6,8%).

 Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, có trên 50% số doanh nghiệp cho rằng, sẽ có khối lượng sản xuất và các đơn hàng hợp đồng sản xuất cao hơn (so với 3 tháng đầu năm 2016, chỉ số này là xấp xỉ 30%, có xấp xỉ 40% số doanh nghiệp nhận định sẽ có số đơn hàng xuất khẩu cao hơn. Điều đó cho thấy, động lực tăng trưởng chủ đạo của Việt Nam là khu vực sản xuất công nghiệp, chế biến chế tạo sẽ có xu hướng tăng trưởng tích cực hơn nhiều (đạt con số khoảng 9%) và như thế con số tăng trưởng đặt ra cho năm 2016 là 6,7%-6,8% vẫn có thể đạt được với những biện pháp tích cực cho phát triển kinh tế.

Một số kiến nghị  

Thứ nhất, đẩy mạnh các chính sách tạo bước đột phá cho sản xuất công nghiệp, cụ thể là doanh nghiệp, các nhà đầu tư, nhất là đối với lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu trong điều kiện cạnh tranh cao. Cụ thể:

- Cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các cơ chế, chính sách, giải pháp thu hút đầu tư vào các ngành hàng có tác động đến phát triển là đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường, như: công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao; triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tạo môi trường thuận lợi nhất cho phát triển sản xuất, kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp; trọng tâm là rà soát, hoàn thiện, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan.

 - Hỗ các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các bộ ngành thường xuyên cung cấp thông tin về thị trường, ngành hàng, các quy định, rào cản của các thị trường xuất khẩu mục tiêu; tăng cường tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp với chính quyền địa phương, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh; tổ chức giới thiệu, hướng dẫn cụ thể về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhằm giúp doanh nghiệp hiểu chính xác và đầy đủ về các nội dung cốt lõi của TPP để định hướng chiến lược kinh doanh phù hợp.

   - Đối với các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ và vừa, vẫn tiếp tục với mức độ mạnh hơn các chính sách ưu tiên thuận lợi hơn cho tiếp cận các nguồn vốn tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, mở rộng hoạt động tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đồng thời với tháo gỡ khó khăn của ngành trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Giải pháp trong dài hạn đối với ngành nông nghiệp với chức năng tạo tăng trưởng “kép” (tăng trưởng cho chính ngành nông nghiệp và tạo điều kiện tăng trưởng công nghiệp chế biến và thương mại hàng hóa nông sản) vẫn là tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, về ngắn hạn (trước mắt), đối mặt với những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, bởi tác động của biến đổi khi hậu ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Cụ thể là trước hiện tượng hạn hán, xâm nhập mặn, thì những giải pháp tái cấu trúc ngành nông nghiệp phải gắn liền với giải quyết các khó khăn đối với ngành này, thể hiện khá rõ trong quý I/2016. Cụ thể:

- Đối với tình trạng hạn hán: Cần nhấn mạnh việc chuyển đổi cây trồng ít sử dụng nước là biện pháp tối ưu trong công tác chống hạn. Tuy nhiên, để giải quyết sản phẩm đầu ra khi nông dân thực hiện chuyển đổi cây trồng chịu hạn, thì cần sự vào cuộc của địa phương và doanh nghiệp. Những giải pháp cần tập trung vào: (i) Rà soát lại quy hoạch sản xuất, phân định rõ vùng sản xuất: vùng có nước áp dụng giảm chi phí sản xuất; vùng hạn nặng chuyển đổi cơ cấu sản xuất; (ii) Kiện toàn hệ thống thuỷ lợi, điều tiết nước, sử dụng phương pháp tưới nước tiết kiệm để chủ động nguồn nước tưới phục vụ sản xuất; (iii) Giải pháp phi sản xuất; chuyển vụ, tăng vụ, đưa các loại giống cây trồng chịu hạn, giống ngắn ngày vào sản xuất; Phát triển chăn nuôi gia súc chịu hạn, trồng cỏ, thu gom rơm rạ, tận dụng phế phẩm để chế biến thức ăn chăn nuôi.

- Đối với tình trạng đất nhiễm mặn: Cần quán triệt quan điểm "nên làm bạn với mặn vì nó sẽ là cơ hội làm giàu, tư duy mặn là kẻ thù không còn phù hợp" (GS. Võ Tòng Xuân). Có nghĩa là: tại vùng ven biển nhiễm mặn, cần có giải pháp mạnh cho việc chuyển chuyển đất lúa sang nuôi trồng cây con có giá trị, chuyển từ chuyên trồng lúa sang mô hình canh tác bền vững như quy trình lúa - tôm, tức là trồng vụ lúa khi mùa mưa bắt đầu, đến khi mưa hết thì lúa cũng thu hoạch xong. Tiếp đó, nông dân cho nước mặn vào ruộng để nuôi tôm, cua...

Nhưng khó khăn nữa, cũng cần phải lường trước là việc ngăn nước và xả nước từ thượng nguồn sông Mê Kông sẽ chủ yếu do chủ quan của con người, nhất là từ phía Trung Quốc, nên sẽ còn rất khó lường!

Thứ ba, tiếp tục xem FDI là động lực tăng trưởng, nhưng cần có giải pháp gắn kết các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI

Khuyến nghị này có 2 nội dung:

(i) Tiếp tục tăng cường các chính sách thu hút FDI. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của dòng vốn này, trong thời gian tới, cần lưu ý đến nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, đặc biệt chú trọng các dự án FDI có quy mô vốn lớn, các nhà đầu tư công nghệ gốc. Trong 3 tháng đầu năm, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, có tới 51 dự án đầu tư của Trung Quốc (chỉ đứng sau Hàn Quốc và Nhật Bản). Tuy nhiên, tổng vốn chỉ là 151,2 triệu USD, mỗi dự án vốn đầu tư trung bình chỉ xấp xỉ 3 triệu USD, quy mô rất nhỏ, công nghệ thấp, đầu tư vào các lĩnh vực mà khả năng công nghệ trong nước của Việt Nam có thể làm được. Vì thế, trong thời gian tới, cần giảm và thực sự nghiêm khắc đối với các dự án FDI của Trung Quốc vào Việt Nam, cũng như chuyển giao các công nghệ lạc hậu. Tình trạng khó khăn của các cơ sở sản xuất Ethanol đang là bài học nhãn tiền.

(ii) Giảm thiểu khó khăn của các khu vực kinh tế trong nước thông qua việc thực hiện giải pháp liên kết doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI. Cần có những đàm phán và thỏa thuận với các doanh nghiệp FDI có quy mô lớn để thực hiện sự liên kết thông qua việc doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất sản phẩm phụ trợ cho các doanh nghiệp FDI thay vì các doanh nghiệp này phải nhập khẩu về. Điều này sẽ là một giải pháp 2 trong 1: Một mặt, giải quyết khó khăn trong hoạt động của doanh nghiệp trong nước thông qua các hoạt động sản xuất chi tiết, phụ tùng sản phẩm cùng với doanh nghiệp FDI; Mặt khác, thực hiện một bước đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ dựa vào những liên kết với các doanh nghiệp FDI (đối với doanh nghiệp công nghiệp).

Thứ tư, thúc đẩy xuất khẩu với tốc độ cao hơn so với 3 tháng đầu năm

Trước thực tế trên, để đạt mức tăng trưởng xuất khẩu 10% so với năm 2015, thì mỗi tháng, kim ngạch xuất khẩu phải đạt bình quân từ 14,7-14,8 tỷ USD, tức là tăng bình quân 1,3 tỷ USD so với năm 2015, thì cần thực hiện nhiều giải pháp về thị trường, hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp tìm kiếm đơn hàng, đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt, các đơn vị chức năng cần giúp doanh nghiệp tận dụng lợi thế sản phẩm từ các hiệp định thương mại tự do vừa mới có hiệu lực để khai thác sâu hơn các thị trường truyền thống và phát triển thị trường mới. Đẩy mạnh triển khai công tác xúc tiến thương mại nhằm củng cố và phát triển thị trường xuất khẩu đạt mức tăng trưởng như kế hoạch đã đề ra trong năm 2016.  Tổ chức kết nối thị trường trong và ngoài nước để định hướng sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu hàng hóa đến tất cả các ngành, phân ngành, nhất là hàng nông sản. Chủ động có giải pháp cụ thể thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN và TPP./.

Tài liệu tham khảo

1. Tổng cục Thống kê (2016). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2016

2. IMF, Worldbank, OECD (2016). Các dự báo kinh tế thế giới 2016

GS, TS. Ngô Thắng Lợi
PGS, TS. Trần Thị Vân Hoa

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

(Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 8/2016)

Tin xem nhiều
* Ý kiến bạn đọc
* Tin đáng chú ý
* Các tin liên quan