Các yếu tố chính như giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng theo xu hướng tăng giá thế giới; giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với tháng 6/2020.

CPI 6 tháng đầu năm tăng 1,47%, chỉ số giá cả sản xuất đều tăng

CPI 6 tháng đầu năm tăng 1,47% trong bối cảnh dịch Covid 19 quay trở lại

Chỉ số giá tiêu dùng quý II và 6 tháng đều tăng

Cụ thể, theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, trong đó: 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 2 nhóm có chỉ số giá giảm và 1 nhóm giữ giá ổn định. Đáng chú ý nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 1,07% làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 12/5/2021, ngày 11/6/2021 và ngày 26/6/2021 làm chỉ số giá xăng tăng 3,45%, dầu diezen tăng 4,71%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,63% làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm chủ yếu do các đợt nắng nóng trong tháng làm chỉ số giá điện, nước sinh hoạt lần lượt tăng 1% và tăng 0,26%, bên cạnh đó giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,26% theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào; giá gas tăng 3,85% do giá gas trong nước điều chỉnh; giá dầu hỏa tăng 4,95%.

Đặc biệt, trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng, sản phẩm nguyên liệu từ gang, sắt, thép tháng 6/2021 tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 15,28% so với tháng 6/2020, bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 9,61% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng tiêu dùng của mặt hàng sắt thép chiếm 19,58% trong tổng chi tiêu dùng của nhóm hàng vật liệu bảo dưỡng nhà ở và chiếm 0,4% trong tổng chi tiêu dùng của dân cư, theo đó giá sắt thép tháng 6/2021 tăng so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,017 điểm phần trăm.

Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13% (làm CPI chung giảm 0,04 điểm phần trăm) do giá lương thực, thực phẩm giảm khi nguồn cung dồi dào, trong đó: Lương thực giảm 0,28%; thực phẩm giảm 0,19%; Giá thịt lợn giảm 2% (làm CPI chung giảm 0,07 điểm phần trăm) do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 giảm 0,08% do giá dịch vụ du lịch trọn gói giảm 0,05%.

Tính chung quý II/2021, CPI tăng 0,45% so với quý trước và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó giao thông tăng 18,12% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục tăng 4,09%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,63%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,55%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,7%. Có 2 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là bưu chính viễn thông giảm 0,82%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,58%.

Thông Tổng cục Thống kê, CPI tháng 6/2021 tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2020. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2020. CPI 6 tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu như giá xăng dầu trong nước tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm), giá gas tăng 16,51% (làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm); Giá dịch vụ giáo dục tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm) do ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ; Giá gạo tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,18 điểm phần trăm) do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao. Đặc biệt còn là do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm).

Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 6 tháng đầu năm 2021 như giá các mặt hàng thực phẩm giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung giảm 0,08 điểm phần trăm); Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng trong quý II (bắt đầu giảm từ tháng 5/2020) và quý IV năm 2020 (được thực hiện vào tháng 1/2021) nên giá điện sinh hoạt bình quân 6 tháng đầu năm 2021 giảm 3,06% so với cùng kỳ năm 2020 (làm CPI chung giảm 0,1 điểm phần trăm); Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 2,85% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm; (iv) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 và ổn định giá cả thị trường.

Lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 0,87% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ biến động trái chiều

Nhận định rất đáng chú ý được Tổng cục Thống kê đưa ra là giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới. Giá vàng thế giới giảm sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đưa ra thông tin có khả năng điều chỉnh lãi suất sớm hơn trong năm 2023 thay vì tăng từ năm 2024. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 25/6/2021 giảm 0,67% so với tháng 5/2021. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 6/2021 tăng 1,12% so với tháng trước; tăng 0,23% so với tháng 12/2020 và tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2020.

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tiếp tục đà phục hồi sau khi FED phát đi tín hiệu sẽ sớm thực hiện việc điều chỉnh chính sách tiền tệ nới lỏng. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2021 giảm 0,3% so với tháng trước; giảm 0,32% so với tháng 12/2020 và giảm 0,87% so với cùng kỳ năm 2020.

Chỉ số giá sản xuất hàng hóa dịch vụ tăng

Trong bối cảnh kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phục hồi; Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và các nước đồng minh tiếp tục duy trì mức sản lượng khai thác dầu dưới mức nhu cầu sử dụng của thế giới là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm giảm 0,99% so với cùng kỳ năm 2020 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.

Trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2021 tăng 0,24% so với quý trước và tăng 3,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 0,18% và tăng 4,47%; lâm nghiệp tăng 0,55% và tăng 0,73%; thủy sản tăng 0,41% và tăng 2,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,23% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 5,63%; lâm nghiệp tăng 0,3%; thủy sản tăng 0,48%.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý II/2021 tăng 1,4% so với quý trước và tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II/2021 tăng 0,01% so với quý trước và tăng 2% so với cùng kỳ năm trước,

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2021 tăng 1,58% so với quý trước và tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,29% và tăng 7,25%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,56% và tăng 4,84%; dùng cho xây dựng tăng 2,12% và tăng 6,42%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,83%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,97%; dùng cho xây dựng tăng 3,91%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý II/2021 tăng 1,29% so với quý trước và tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,93% và tăng 3,66%; nhóm nhiên liệu tăng 9,5% và tăng 27,29%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,04% và tăng 1,79%. Tương tự, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II/2021 tăng 1,3% so với quý trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước, với nhiều nhóm tăng như nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,9% và tăng 2,85%; nhóm nhiên liệu tăng 5,08% và tăng 31,2%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,09% và tăng 2,12%.

Đáng lưu ý chỉ số giá nhập khẩu quý II của một số mặt hàng nguyên liệu cũng tăng khá cao như cao su nguyên liệu tăng 7,19% so với quý trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm trước; lúa mỳ tăng 7,04% và tăng 9,93%; sắt thép tăng 6,2% và tăng 10,99%; xăng dầu các loại tăng 5,42% và tăng 35,95%; sắt thép tăng 7,65%; hóa chất tăng 5,18%...

Liên quan tỷ giá thương mại, theo Tổng cục Thống kê, tỷ giá thương mại hàng hóa quý II/2021 giảm 0,01% so với quý trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,99% so với cùng kỳ năm trước./.