Thương mại điện tử trên mạng xã hội: Cần làm mới khung pháp lý
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố Báo cáo về vấn đề thương mại điện tử (TMĐT) trên mạng xã hội tại Việt Nam, đồng thời tổ chức tọa đàm cùng chủ đề sáng 23/3 tại Hà Nội.

Tọa đàm "Thương mại điện tử trên mạng xã hội tại Việt Nam: Một số vấn đề pháp lý"
Bùng nổ thị trường thương mại điện tử trên mạng xã hội
Theo số liệu được công bố tại Tọa đàm, thị trường TMĐT ở Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển nhanh. Tốc độ tăng trưởng của TMĐT trong giai đoạn 2013 – 2019 luôn ở mức cao, trên 20%/ năm. Nhờ vậy, từ xuất phát điểm thấp 2,2 tỷ USD vào năm 2013, quy mô thị trường TMĐT lên đến khoảng 10,08 tỷ USD vào năm 2019.
Thị trường TMĐT ở Việt Nam được dự đoán vẫn sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao trong thời gian tới. Theo Báo cáo e-Conomy SEA 2019 của Google và Temasek, tốc độ tăng trưởng hàng năm kép (Compound Average Growth Rate – CAGR) của giai đoạn 2015 – 2025 là 49%, và quy mô thị trường dự kiến đạt 23 tỷ USD vào năm 2025. Khi đó, Việt Nam dự báo sẽ trở thành nước có quy mô TMĐT lớn thứ hai Đông Nam Á, sau Indonesia với tổng quy mô thị trường 82 tỷ USD.
Không chỉ tăng trưởng nhanh về quy mô, TMĐT phát triển đa dạng trên nhiều mặt. Các nền tảng TMĐT mang đến nhiều tiện ích như trải nghiệm đa nền tảng (website, ứng dụng trên di động); các phương thức thanh toán đa dạng (tiền mặt, ví điện tử, tài khoản di động, thẻ thanh toán, v.v.). Về kênh bán và giới thiệu hàng hóa, sản phẩm, hiện có 3 kênh TMĐT chủ yếu được sử dụng là diễn đàn (forum), mạng xã hội; sàn giao dịch TMĐT và các website bán hàng.
Theo thống kê của Cục TMĐT và Kinh tế số, tính cộng dồn đến hết năm 2019, cả nước có 29.370 website bán hàng và 999 sàn giao dịch TMĐT. Trong đó, 4 sàn giao dịch TMĐT hàng đầu hiện nay là Shopee, Lazada, Tiki và Sendo. Bản đồ TMĐT Việt Nam của Iprice cho thấy rằng lượng truy cập web mỗi tháng của 4 sàn giao dịch TMĐT hàng đầu rất cao, như Shopee gần 52,5 triệu, Tiki khoảng 21 triệu lượt 1 , v.v. và vượt xa các sàn giao dịch TMĐT khác.
Cùng với các sàn giao dịch TMĐT, mạng xã hội cũng là nơi diễn ra mạnh mẽ hoạt động hỗ trợ TMĐT. Theo khảo sát của Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM), năm 2019, khoảng 39% doanh nghiệp được khảo sát cho biết có tham gia kinh doanh trên diễn đàn, mạng xã hội và bán hàng sử dụng mạng xã hội làm công cụ hỗ trợ. Tỷ lệ này thấp hơn không đáng kể so với tỷ lệ 42% doanh nghiệp bán hàng trên website của chính mình, nhưng lại cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 17% doanh nghiệp bán hàng trên các sàn giao dịch TMĐT.
Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp bán hàng thông qua công cụ mạng xã hội đang có xu hướng tăng (tăng 3% so với năm 2018), trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp bán hàng trên website của chính mình lại có xu hướng giảm (giảm 2% so với năm 2018). Trong khi đó, về phía người tiêu dùng, báo cáo của Cục TMĐT và Kinh tế số, khoảng 57% người được khảo sát cho biết họ có thực hiện mua sắm qua diễn đàn, mạng xã hội.
Xu hướng chung cho thấy Mạng xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến được nhiều người Việt Nam sử dụng. Theo Báo cáo Digital2020 for Vietnam của We are social và Hootsuite, lượng người dùng mạng xã hội thường xuyên ở Việt Nam tính đến tháng 01/2020 là 65 triệu người, chiếm 67% tổng dân số. Số lượng này tăng thêm 5,7 triệu người dùng (tức 9,6%) so với thời điểm tháng 01/2019. Không những thế, người dùng mạng xã hội cũng hoạt động khá tích cực. Với số lượng người dùng đông đảo, khả năng tương tác và chia sẻ thông tin cao như vậy, mạng xã hội đang và sẽ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng với hoạt động có yếu tố TMĐT.
Chung khung quản lý có phù hợp?
Theo ông Nguyễn Minh Đức, thành viên Ban pháp chế (VCCI), đại diện cho nhóm nghiên cứu thực hiện báo cáo “Thương mại điện tử trên mạng xã hội tại Việt Nam: Một số vấn đề pháp lý” vừa được VCCI công bố, các rà soát và nghiên cứu thực tiễn cho thấy hoạt động TMĐT trên MXH có đặc thù riêng biệt và không hoàn toàn giống với bất kỳ hình thức TMĐT nào.
Nghiên cứu của VCCI cũng chỉ ra rằng, hiện nay, các MXH chưa có chức năng đặt hàng trực tuyến, các bên vẫn phải liên hệ trực tiếp với nhau để hoàn thành giao dịch. Trong khi đó các sàn TMĐT có thể có chức năng đặt hàng trực tuyến và cho phép giao dịch TMĐT được hoàn tất trên môi trường mạng từ khâu đặt hàng cho đến khâu vận chuyển và giao hàng.
Một số mạng xã hội có bổ sung chức năng hỗ trợ hoạt động có yếu tố TMĐT (như Marketplace của Facebook hay Shop của Zalo) nhưng chức năng này mới chỉ dừng lại ở khâu giới thiệu sản phẩm và cung cấp thông tin, chưa có chức năng đặt hàng trực tuyến. Do vậy, một số MXH hiện nay chỉ đóng vai trò là bên môi giới. Thêm vào đó, nếu như các sàn giao dịch TMĐT chứa các nội dung thuần túy là thông tin thương mại thì các MXH có sự trộn lẫn giữa các thông tin thương mại và thông tin phi thương mại.
Tại Việt Nam, từ năm 2016 trở lại đây, mạng xã hội đã trở thành một kênh hỗ trợ TMĐT mới và hiệu quả với chi phí thấp, được các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh cá thể đặc biệt quan tâm. Hoạt động có yếu tố TMĐT thông qua mạng xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến, thậm chí các doanh nghiệp lớn cũng có nhu cầu mở rộng kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ qua mạng xã hội.
Tuy nhiên, đáng chú ý là hiện nay khung pháp lý quản lý hoạt động TMĐT vẫn áp dụng chung cho cả MXH và sàn giao dịch TMĐT mà chưa tính đến những khác biệt cơ bản này. Do đó, các chuyên gia cho rằng thực tiễn này đòi hỏi các cơ quan quản lý cần có những chính sách phù hợp không chỉ để quản lý hiệu quả mà còn thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động có yếu tố TMĐT thông qua công cụ mạng xã hội.
Việc quản lý hoạt động có yếu tố TMĐT trên mạng xã hội cần có những khác biệt với các loại hình TMĐT khác để phù hợp với bản chất của hoạt động này và có tính khả thi. Sự phát triển của kênh TMĐT này sẽ không chỉ góp phần phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa, nhỏ và các hộ kinh doanh cá thể, mà còn góp phần vào sự phát triển của thị trường TMĐT Việt Nam.
Sẽ sửa đổi khung pháp lý
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết về mặt pháp lý, các khuôn khổ cho hoạt động TMĐT, hoạt động của mạng xã hội đã được xây dựng chủ yếu từ năm 2013. Tuy nhiên, do các quy định này được xây dựng trong giai đoạn đầu của TMĐT, rất nhiều vấn đề chưa được đề cập hoặc được quy định rất chung chung, chỉ mang tính nguyên tắc nên gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Hơn nữa, do thực tiễn hoạt động TMĐT trên internet phát triển quá nhanh nên nhiều quy định đã trở nên lạc hậu. Chính vì vậy, pháp luật về quản lý mạng xã hội và thương mại điện tử đang được rà soát và dự kiến sửa đổi trong thời gian tới.
Theo ông Nguyễn Minh Đức, đại diện nhóm nghiên cứu, việc kiểm soát thông tin đăng tải và giám sát nội dung thương mại trên MXH cũng là một vấn đề cần xem xét. Hiện nay, các quy định pháp luật về phạm vi của các nội dung bị cấm, nội dung vi phạm pháp luật, thông tin bịa đặt còn chung chung, không cụ thể hóa dẫn đến việc các doanh nghiệp buộc phải tự phán đoán để tuân thủ. Đồng thời các MXH cũng gặp khó khăn trong việc tuân thủ quy định về phát triển các công cụ giám sát nội dung thương mại tự động. Do vậy, ông Đức khuyến nghị cần xây dựng các quy định rõ ràng về các nội dung cần kiểm duyệt và loại bỏ. Đồng thời, hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò trung gian giúp các doanh nghiệp chia sẻ các công cụ tiền kiểm để kiểm soát nội dung đăng tải.
Đối với việc xác thực người dùng trên MXH có hoạt động TMĐT, nhiều ý kiến doanh nghiệp cho biết, các quy định hiện nay về thu thập thông tin người dùng giữa Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Nghị định 72/2013/NĐ-CP có sự khác nhau, do vậy các quy định này gây khó khăn cho MXH có hoạt động TMĐT và cũng chưa khả thi về mặt thực tiễn. Do vậy, khuyến nghị được các doanh nghiệp đưa ra tại khảo sát là cần phân theo cấp độ các quy định xác thực người dùng.
Theo đó, các mạng xã hội thông thường chỉ nên chịu sự quản lý của các quy định về mạng xã hội theo Nghị định 72/2013/NĐ-CP. của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Các mạng xã hội có chức năng hỗ trợ thương mại điện tử nhưng không có chức năng đặt hàng trực tuyến thì nên quản lý theo tiêu chuẩn thương mại và pháp luật về thương mại điện tử ở mức độ thấp, đơn giản. Chỉ các mạng xã hội có chức năng đặt hàng trực tuyến mới nên quản lý theo pháp luật về thương mại điện tử tương tự như sàn giao dịch thương mại điện tử.
Với MXH thông thường chỉ yêu cầu số điện thoại hoặc email; còn MXH có chức năng hỗ trợ TMĐT nhưng không có chức năng đặt hàng trực tuyến thì cần xác thực các yếu tố trên; MXH có chức năng đặt hàng trực tuyến có thể ghi nhận thêm số tài khoản ngân hàng.
Một vấn đề nữa cũng được các doanh nghiệp phản ánh trong báo cáo nghiên cứu liên quan đến những khó khăn trong việc thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước. Hiện nay, mặc dù pháp luật có quy định nghĩa vụ của các doanh nghiệp phải thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước, nhưng chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để cơ quan nhà nước ra các yêu cầu như vậy. Việc này dẫn đến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình tuân thủ các yêu cầu này. Do vậy, cần xây dựng các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ra các yêu cầu này.
VCCI cũng kiến nghị cần nghiên cứu bổ sung quy định về nghĩa vụ của người nổi tiếng khi bán hàng trên MXH do hiện nay chưa có quy định pháp luật quản lý đối với người nổi tiếng bán hàng.
Với kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng các web form, ông Nguyễn Văn Tuấn – Phó Tổng Giám đốc VCCorp cho rằng cần có cơ chế mình bạch rõ ràng trong quản lý thay vì kìm hãm sự phát triển của xu hướng bùng nổ TMĐT trên các MXH. “Tại các quốc gia phát triển, việc lên mạng xã hội mua sắm được coi là giải trí, đây là xu thế và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Bởi rất khó để phân loại các nền tảng trên mạng xã hội, hiện nay đã có những mạng xã hội siêu ứng dụng, điểm khác giữa các nền tảng này chỉ là điểm xuất phát và trong tương lai cơ chế hoạt động cũng tương tự nhau”, ông Tuấn lý giải.
Theo quan điểm của vị doanh nhân này, để phát triển TMĐT gắn với nền tảng MXH ở Việt Nam, theo ông Tuấn, cần làm rõ được các vấn đề như hải quản lý hàng hoá đăng tải để đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ; quản lý được quyền mạo danh. Thứ ba, quản lý thuế của người bán để tránh phát sinh khó cạnh tranh giá cả. Ngoài ra, cần làm tốt được việc quản lý dữ liệu để khi cần có thể trích xuất được “lý lịch” người bán cũng như người mua, và cuối cùng là quản lý được nghĩa vụ thuế đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ trên mạng xã hội.
Bình luận