Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư hợp tác công tư
ThS. Lê Hà Thiên Ấn, Phòng Kinh tế, UBND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh
Email: anpktq7@gmail.com
TS. Đặng Hoàng Tuấn, Sở Giao thông vận tải tỉnh Long An
TS. Lê Mạnh Tường
Công ty Cổ phần Đào tạo - Xây dựng và Phát triển Nguồn nhân lực Sáu
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho các dự án đầu tư hoạt động theo phương thức hợp tác công tư (PPP). Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 nhân tố tác động đến hiệu quả của công tác quản trị rủi ro tài chính cho các dự án đầu tư theo phương thức PPP theo mức độ ảnh hưởng được sắp xếp theo thứ tự giảm dần là: Các yếu tố pháp lý; Chính trị và môi trường kinh doanh; Khả năng cấp vốn cho dự án; Hiệu quả trong việc chuẩn bị dự án và Độ ngại rủi ro. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tài chính của các dự án đầu tư hoạt động theo phương thức PPP.
Từ khóa: nhân tố ảnh hưởng, hiệu quả, quản trị rủi ro tài chính, dự án đầu tư, hợp tác công tư (PPP)
Summary
The study aims to identify and measure the impact of factors on the effectiveness of financial risk management for investment projects operating under the public-private partnership (PPP) model. The research results show five factors affecting the efficacy of financial risk management for investment projects operating under the PPP model, arranged in decreasing order of influence: Legal factors, Political and business environment, Project funding capacity, Project preparation effectiveness, and Risk aversion. From the research results, the authors propose several recommendations to improve the effectiveness of financial risk management for investment projects operating under the PPP model.
Keywords: influencing factors, effectiveness, financial risk management, investment projects, public-private partnership (PPP)
GIỚI THIỆU
Các dự án đầu tư theo phương thức PPP đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công, tuy nhiên, các dự án theo hình thức này cũng đi kèm với nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành của dự án cũng như sự thành công của dự án là các rủi ro tài chính. Việc quản lý rủi ro tài chính hiệu quả không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của các bên liên quan, mà còn đảm bảo sự thành công lâu dài của dự án.
Tài trợ dự án công theo phương thức PPP được xây dựng trên nguyên tắc chuyển giao rủi ro từ khu vực công sang khu vực tư nhân trong những trường hợp mà khu vực tư nhân có khả năng quản lý rủi ro tốt hơn. Các nguyên tắc chung này đều được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực công, trong đó, các dự án tìm cách chuyển rủi ro từ khu vực công sang nhà cung cấp, đồng thời tạo ra động lực lợi nhuận cho khu vực tư nhân để đổi lại. Tuy nhiên, mục tiêu chính của khu vực công là đảm bảo giá trị sử dụng tối ưu (value-for-money) trong các dịch vụ được cung cấp, đồng thời đảm bảo rằng các đơn vị khu vực tư nhân tuân thủ đúng và hiệu quả các nghĩa vụ hợp đồng.
Có thể thấy, phương thức PPP đối với các dự án đầu tư công được xem là một trong những giải pháp tối ưu để giải quyết các vấn đề về ngân sách nhà nước, phát triển cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Phương thức này được chú trọng trong cả nghiên cứu và thực tiễn tại các nước phát triển, tuy nhiên vẫn còn hạn chế tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án PPP, là điều cần thiết, mang ý nghĩa thực tiễn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm và phân loại rủi ro
Theo Segal, S. (2011), rủi ro là sự không chắc chắn về kết quả, bao gồm cả khả năng xảy ra các kết quả tích cực và tiêu cực. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng, rủi ro không chỉ liên quan đến các kết quả tiêu cực, mà còn bao gồm cả những cơ hội tích cực, phản ánh sự sai lệch so với những gì được mong đợi. Cũng theo Segal, S. (2011), các rủi ro có thể được phân thành 4 nhóm chính, gồm: rủi ro tài chính, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động và rủi ro bảo hiểm.
Rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính bao gồm 3 loại rủi ro chính là rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. (i) Rủi ro về mặt thị trường (bao hàm những tổn thất tiềm năng do những biến động bất lợi của các yếu tố trên thị trường tài chính, bao gồm: tỷ giá hối đoái, mức lãi suất, thị trường vốn, giá cả hàng hóa) - những tác động này có thể là trực tiếp (thẳng vào doanh thu) hoặc gián tiếp (sau một quá trình chịu ảnh hưởng từ cạnh tranh trực tiếp, từ nhà cung ứng và có thể từ bộ phận khách hàng); (ii) Rủi ro về tín dụng có thể hiểu đơn giản là khả năng chịu tổn thất do phía các đối tác trả chậm hoặc mất khả năng chi trả các khoản vay nợ hoặc các khoản phải thu. Thông thường, phương pháp quản trị, đặc biệt đối với các ngân hàng bao gồm hàng loạt thủ tục đánh giá, rà soát thông tin đối tác vay nợ, hoặc có cam kết hợp tác mua bán. Các thủ tục này giúp doanh nghiệp vạch ra các hạn mức rủi ro nhằm tránh việc tích tụ công nợ quá lớn vào một vài đối tác. Ngoài ra, đối với cả rủi ro về thị trường tài chính, cũng như các rủi ro về mặt tín dụng đều có thể được hạn chế bởi các công cụ tài chính phái sinh (bao gồm hợp đồng tương lai, quyền chọn, hợp đồng hoán đổi); (iii) Rủi ro thanh khoản, khác với rủi ro tín dụng, đề cập tới những tổn thất khi doanh nghiệp tiến hành chuyển đổi tài sản thành các công cụ tài chính dựa trên định giá của thị trường. Việc chuyển đổi này có thể là một quyết định bán tài sản cố định, hoặc sử dụng tài sản cố định vào các hợp đồng thế chấp cho các khoản vay từ ngân hàng. Rủi ro thanh khoản trong các quyết định tài chính này phần lớn phát sinh từ sự thiếu nắm bắt về thị trường, hoặc từ những biến động có tính đứt gãy trên thị trường.
Tầm quan trọng của việc quản trị hiệu quả rủi ro tài chính trong dự án PPP
Phần lớn rủi ro của một dự án PPP xuất phát từ sự phức tạp của thỏa thuận, bao gồm các yếu tố, như: hồ sơ pháp lý, tài chính, thuế, chi tiết kỹ thuật, các hợp đồng phụ…, trong một dự án hạ tầng quy mô lớn. Bên cạnh đó, bản chất của rủi ro cũng thay đổi theo từng giai đoạn của dự án. Tuy nhiên, từ góc độ của các nhà tài trợ dự án, PPP về bản chất là một hình thức tài trợ dự án, được đặc trưng bởi việc thành lập một công ty đặc biệt (special purpose vehicle - SPV) với mức đòn bẩy tài chính cao để thực hiện dự án. Do đó, mô hình này phụ thuộc vào nguồn doanh thu trực tiếp để trang trải chi phí vận hành, trả nợ vay và đảm bảo lợi nhuận cho vốn đầu tư chịu rủi ro. Mặc dù có một số trường hợp ngoại lệ, một số dự án có lợi nhuận nhanh, như dự án Hong Kong Harbour Tunnel bắt đầu có lợi nhuận sau 4 năm kể từ khi vận hành, hầu hết các dự án PPP đều có thời gian thực hiện kéo dài và cần nhiều năm mới có thể tạo ra lợi nhuận.
Do đó, tài trợ theo hình thức tín dụng có giới hạn trách nhiệm là hình thức tài trợ chính. Các dự án PPP chỉ khả thi nếu có một dòng doanh thu ổn định và dài hạn. Rủi ro lớn nhất đối với tính khả thi về mặt thương mại của dự án chính là nguy cơ doanh thu dự kiến không đạt được như kế hoạch.
Các phương thức quản trị rủi ro tài chính
Hiện nay, đa phần các phương pháp quản trị rủi ro tài chính đều dựa trên các hệ thống mô hình định lượng khá phức tạp, có thể được thực hiện thông qua việc thuê ngoài dịch vụ của các công ty tư vấn tài chính lớn (PWC hay McKenzie) theo các chuẩn mực cụ thể (Basel II) - chủ yếu là các công tác liên quan đến định giá công cụ tài chính, quản lý các quỹ phòng ngừa rủi ro hoặc thiết lập các hệ thống theo dõi giám sát rủi ro. Trong quản trị rủi ro hiện đại, hệ thống lý thuyết đang dần hình thành một khái niệm mới là rủi ro mô hình - một khái niệm mang tính tổng hợp các nguồn rủi ro; theo đó, nó đề cập tới các tổn thất phát sinh do mô hình quản trị không được áp dụng triệt để, áp dụng sai mô hình, hoặc đơn giản nhất là mô hình đề xuất cho các công tác quản trị là sai. Từ đó, người quản lý không có đủ cơ sở khoa học để đưa ra quyết định dẫn tới những tổn thất nhất định.
Ở Việt Nam, hiện nay, giới nghiên cứu luôn cố gắng để vừa chỉ ra các rủi ro đặc trưng đối với thị trường trong nước, vừa xác định cấp độ rủi ro. Tuy nhiên, việc tìm ra một phương thức quản trị rủi ro nhằm hạn chế tối đa những tổn thất do các vấn đề nêu trên gây ra vẫn chưa có tính thực tiễn cao, đồng thời một phần do tư duy quản lý của doanh nghiệp còn khá mới mẻ với việc sử dụng các công cụ toán học cũng như chưa hình thành được một văn hóa quản trị rủi ro một cách đầy đủ.
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu trước liên quan và các lý thuyết nền về quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tài chính cũng như kết quả khảo sát chuyên gia, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho các dự án đầu tư PPP như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu xây dựng
Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
H1: Các yếu tố pháp lý có tác động cùng chiều (+) đến Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư theo phương thức PPP. Yếu tố pháp lý được đánh giá là ảnh hưởng tới việc quản trị rủi ro cho dự án PPP trên thế giới, trong đó khả năng thực hiện, hoàn thành và vận hành hiệu quả dự án PPP phụ thuộc chủ yếu vào khung pháp lý thuận lợi, cho phép dự án được phát triển mà không có quá nhiều giới hạn về mặt luật pháp về sự tham gia của khu vực tư nhân. Các dự án PPP thực hiện trong môi trường có khung pháp lý phù hợp thường thu hút nguồn tài chính cho dự án tốt hơn. Ngoài ra, khuôn khổ chính trị và pháp lý thuận lợi cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới việc hoàn thành dự án. Sự hỗ trợ ở khía cạnh pháp lý và xây dựng được các quy định về pháp luật giúp các dự án PPP có thể được đảm bảo đầu tư dài hạn, giảm chi phí giao dịch, tránh các vấn đề tranh chấp trong thời điểm thực hiện dự án, đồng thời cũng thu hút các nhà đầu tư tư nhân hơn. Theo Yitmen và cộng sự (2012), khung pháp lý về dự án PPP cần bao gồm: (i) Khung pháp lý rõ ràng, thuận lợi, cụ thể là có các luật hoặc điều khoản có thể giúp áp dụng khi đầu tư PPP và thực hiện các chức năng của nó; (ii) Hợp đồng PPP chặt chẽ và chia sẻ rủi ro tài chính công bằng, cụ thể là các điều khoản đảm bảo về mặt tài chính và vận hành lâu dài cho dự án.
H2: Độ ngại rủi ro có tác động cùng chiều (+) đến Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư theo phương thức PPP. Các nghiên cứu nền tảng về quản lý rủi ro trong dự án PPP xuất phát từ Akintoye và cộng sự (1998) đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng, trong đó các rủi ro liên quan đến thiết kế, chi phí xây dựng, hiệu quả hoạt động, hợp đồng, chậm trễ tiến độ, chi phí hoạt động, tín dụng, những thay đổi của chính phủ và các rủi ro liên quan đến đất đai, là những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả tài chính của dự án. Các nghiên cứu sau dựa trên nghiên cứu của B. Li và cộng sự (2005) thường tập trung vào việc phân bổ rủi ro trong dự án PPP. Mouraviev (2012) khẳng định rằng, rủi ro trong các dự án PPP phải được phân bổ cho cả khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và duy trì phân bổ này xuyên suốt thời gian từ lúc ký kết hợp đồng cho đến thời gian kết thúc.
H3: Hiệu quả trong việc chuẩn bị dự án có tác động cùng chiều (+) đến Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư theo phương thức PPP. Ở góc nhìn của chính phủ, quá trình chuẩn bị các dự án PPP đạt hiệu quả phải đáp ứng được các yêu cầu: Thiết kế xây dựng phải dễ hiểu, rõ ràng và đầy đủ thông tin; Ứng dụng công nghệ mới và các sáng tạo trong xây dựng; Cân bằng được các yêu cầu về thiết kế với ngân sách sẵn có; Có sự nâng cao trong các yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu để lựa chọn tư vấn, lựa chọn chuyên gia cũng như nhà thầu. Ở góc nhìn của tư nhân, dự án PPP đạt hiệu quả trong quá trình quá trình chuẩn bị thực hiện phải: Biết cách phân phối hoặc thuê ngoài các khối lượng công việc cho các nhà thầu phụ để có thể chuyên biệt hơn; Thiết lập được mạng lưới/mối quan hệ mạnh dưới sự điều phối của nhà thầu chính; Có động lực thực hiện các dự án; Lập kế hoạch hợp lý, có sự ủy quyền nhiều hơn cho người đại diện trực tiếp điều hành trong dự án.
H4: Khả năng cấp vốn cho dự án có tác động cùng chiều (+) đến Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư theo phương thức PPP. Nghiên cứu của B. Li và cộng sự (2005) chỉ ra rằng, có sự tham gia của các tập đoàn tư nhân với tiềm lực tài chính mạnh và tốt; phía khu vực công và khu vực tư có sự phân bổ rủi ro thích hợp và thị trường tài chính sẵn có là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến các dự án PPP thành công ở Anh. Theo đó, các yếu tố liên quan tới khả năng cấp vốn cho dự án được xác định là ảnh hưởng tới hiệu quả quản trị rủi ro tài chính của dự án PPP, bao gồm: (i) Mở ra cơ hội kinh doanh mới cho khu vực tư nhân; (ii) Khả năng bảo trì, vận hành dự án; (iii) Khả năng tiết kiệm trong tổng chi phí dự án; (iv) Giải quyết các vấn đề hạn chế về ngân sách nhà nước; (v) Khả năng chuyển giao công nghệ cho các công ty trong nước.
H5: Chính trị và môi trường kinh doanh có tác động cùng chiều (+) đến Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư theo phương thức PPP. Chan và cộng sự (2010) nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính trị và môi trường kinh doanh với các dự án PPP tại Trung Quốc và chỉ ra rằng, Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định; Chia sẻ trách nhiệm giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân; Quá trình đấu thầu minh bạch và hiệu quả; Môi trường chính trị và xã hội ổn định và Sự kiểm soát khôn khéo của chính phủ, là những yếu tố ảnh hưởng tới Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính của dự án PPP.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng; trong đó, nghiên cứu định tính được thực hiện bằng việc xây dựng và phát triển hệ thống khái niệm/thang đo, các biến quan sát và hiệu chỉnh biến quan sát phù hợp với thực tế. Thông qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu liên quan đến quản trị rủi ro tài chính và quy định về dự án đầu tư và phương thức PPP, nhóm tác giả xác định có 5 nhân tố độc lập với 20 thang đo được cho là có tác động đến việc 1 biến phụ thuộc với 3 biến quan sát. Để phục vụ nghiên cứu, dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp sưu tầm tài liệu, phỏng vấn chuyên gia và gửi phiếu khảo sát. Nội dung các câu hỏi là các biến quan sát đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định và sử dụng thang đo Likert 5 mức độ cho toàn bộ bảng hỏi: 1 - Hoàn toàn không đồng ý; 2 - Không đồng ý; 3 - Bình thường; 4 - Đồng ý; 5 - Hoàn toàn đồng ý.
Theo Bollen (1989), kích thước mẫu tối thiểu là 5 quan sát cho một câu hỏi cần ước lượng. Theo đó, nghiên cứu này có 20 câu hỏi, vì vậy, kích thước mẫu tối thiểu là 20 x 5 = 100. Để đạt được tối thiểu 100 quan sát, nhóm tác giả đã gửi 250 bảng câu hỏi để thực hiện khảo sát những người đang làm việc tại các tổ chức công và tổ chức tư liên quan tới việc quản trị rủi ro tài chính cho các dự án PPP. Thời gian khảo sát từ tháng 8- 10/2024. Khảo sát được thực hiện trực tiếp với các đối tượng và gửi email khảo sát thông qua công cụ Google Form đối với các đối tượng không thể tiếp xúc trực tiếp. Tổng số phiếu được phát ra là 250 phiếu, tỷ lệ hồi đáp đạt 91,6% (229 phiếu). Tiến hành chọn lọc những phiếu đạt yêu cầu, số lượng phiếu đưa vào phân tích là 223 phiếu.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua việc sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau; phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhận diện các nhân tố được cho là phù hợp; phân tích hồi quy tuyến tính đa biến xác định các nhân tố và mức độ tác động của từng nhân tố đến hiệu quả quản trị rủi ro tài chính của các dự án đầu tư hoạt động theo hình thức PPP. Phần mềm SPSS 22.0 được sử dụng để tiến hành phân tích trong nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định độ tin cậy thang đo
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo (Bảng 1) cho thấy, các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng > 0.3. Vì vậy, tất cả các thang đo và biến quan sát đều đạt độ tin cậy và được sử dụng trong phân tích EFA tiếp theo.
Bảng 1: Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha các thang đo
| Thang đo | Số biến quan sát | Crobach’s Alpha | Ghi chú |
| Các yếu tố pháp lý (YTPL) | 2 | 0.769 | Đạt |
| Độ ngại rủi ro (ĐNRR) | 3 | 0.782 | Đạt |
| Hiệu quả trong việc chuẩn bị dự án (CBDA) | 5 | 0.739 | Đạt |
| Khả năng cấp vốn cho dự án (KNCV) | 5 | 0.705 | Đạt |
| Chính trị và môi trường kinh doanh (CTMT) | 5 | 0.727 | Đạt |
Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 22.0.
Phân tích EFA
Kết quả phân tích EFA thang đo các yếu tố
Từ kết quả điều tra, dữ liệu được phân tích EFA với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, sau khi đã loại đi các biến có hệ số factor loading < 0.5, kết quả cuối cùng thu được ở Bảng 2.
Bảng 2: Kết quả phân tích EFA đối với thang đo các biến độc lập
| Hệ số KMO | 0.739 | |
| Kiểm định Bartlett | Chi2 | 1259.258 |
| Sig. | 0.000 | |
| Phương sai trích | 73.458% | |
Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 22.0
Kết quả phân tích cho thấy, hệ số KMO = 0.739 > 0.5; kiểm định Batlett có Sig. = 0.000 < 0.05; phương sai trích = 73.458 % > 50%, các hệ số factor loading đều > 0.5, các biến quan sát hình thành 5 nhân tố. Như vậy, các tiêu chuẩn khi sử dụng phân tích EFA đều phù hợp với tập dữ liệu nghiên cứu.
Kết quả phân tích EFA đối với thang đo biến phụ thuộc
Bảng 3: Kết quả phân tích EFA đối với biến phụ thuộc
| Hệ số KMO | 0.714 | |
| Kiểm định Bartlett | Chi2 | 331.529 |
| Sig. | 0.000 | |
| Phương sai trích | 78.642% | |
Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 22.0
Kết quả phân tích EFA cho thấy, hệ số KMO = 0.714 > 0.5; kiềm định Bartlett có Sig. = 0.000 < 0.05; phương sai trích bằng 79.549% > 50%; các biến quan sát chỉ hình thành duy nhất 1 nhân tố (Bảng 3). Như vậy, phân tích EFA là phù hợp và thang đo biến phụ thuộc (Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho dự án đầu tư theo phương thức PPP) chỉ là thang đo đơn hướng. Do đó, có thể kết luận, sau khi tiến hành phân tích EFA từ tập hợp các biến quan sát xây dựng được, không có nhân tố nào thay đổi. Vì vậy, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu vẫn được giữ nguyên như mô hình ban đầu.
Kết quả phân tích hồi quy
Kết quả của Bảng 4 cho thấy, có 5 nhân tố tố có ý nghĩa về mặt thống kê. Các nhân tố bao gồm: Các yếu tố pháp lý (YTPL); Chính trị và môi trường kinh doanh (CTMT); Khả năng cấp vốn cho dự án (KNCV); Hiệu quả trong việc chuẩn bị dự án (CBDA) và Độ ngại rủi ro (ĐNRR). Vì vậy phương trình hồi quy được xác định như sau:
HQQTRR = 0.263.YTPL + 0.246.CTMT + 0.213.KNCV + 0.206.CBDA + 0.205.ĐNRR
Bên cạnh đó, thống kê F của phân tích phương sai có p-value = 0.000 cho thấy, kết quả ước lượng là phù hợp. Giá trị R2 hiệu chỉnh = 0.639 cho biết, các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích được 63.9% sự biến thiên của biến phụ thuộc. Hay nói cách khác, giá trị R2 hiệu chỉnh giải thích được 63.9% sự phù hợp của mô hình. Hệ số VIF của các biến phụ thuộc trong mô hình đều < 10; vì vậy, không có sự tồn tại của hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả Bảng 5 cũng cho thấy, các giả thuyết đều được chấp nhận với giá trị p-value đều < 0.05.
Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy
![]() |
Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 22.0
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhóm yếu tố: Các yếu tố pháp lý; Độ ngại rủi ro; Hiệu quả trong việc chuẩn bị dự án; Khả năng cấp vốn cho dự án; Chính trị và môi trường kinh doanh, đều ảnh hưởng tới Hiệu quả quản trị rủi ro tài chính cho các dự án đầu tư PPP. Về mặt lý thuyết, nghiên cứu này bổ sung và tiếp nối các nghiên cứu nền tảng trên thế giới về việc quản lý rủi ro tài chính cho dự án PPP. Về thực tiễn, nghiên cứu chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng nhiều tới dự án, để từ đó các bên tham gia dự án (cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư…) có thêm cơ sở để điều chỉnh và đưa ra những khuyến nghị chính sách để các dự án sắp tới được thực hiện tốt hơn.
Khuyến nghị chính sách
Đối với khía cạnh Các yếu tố pháp lý
Các yếu tố pháp lý là yếu tố quan trọng nhất vì một khung pháp lý rõ ràng và ổn định giúp đảm bảo tính minh bạch, giảm rủi ro tranh chấp và bảo vệ lợi ích của các bên tham gia. Trong đó hợp đồng PPP, quy định về chia sẻ rủi ro, quyền và nghĩa vụ của các bên là nền tảng quyết định tính khả thi của dự án. Nếu thiếu các quy định pháp lý đầy đủ, nhà đầu tư sẽ gặp rủi ro về thay đổi chính sách, tranh chấp hợp đồng và khó khăn trong thực thi dự án. Do đó, chính phủ cần có chính sách đảm bảo khung pháp lý.
Đối với khía cạnh Độ ngại rủi ro
Đối với khía cạnh liên quan đến rủi ro, dự án cần phải cụ thể hóa các bên chịu những rủi ro trong quá trình thực hiện và có chế tài nếu vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi cho cả nhà nước và nhà đầu tư. Các chế tài và cơ chế phân bổ rủi ro này cần được quy định rõ trong hợp đồng PPP theo giao kết ban đầu, hoặc hình thành bộ quy tắc phân bổ rủi ro đối với từng loại dự án theo luật định. Đặc biệt, cần có chính sách để giảm thiểu những rủi ro liên quan đến lợi nhuận dự án. Có thể là các cam kết, các cơ chế bảo lãnh đặc thù cho các rủi ro về lưu lượng, doanh thu, chuyển đổi ngoại tệ, hoặc Nhà nước bỏ ra các nguồn vốn đối ứng từ ngân sách hoặc theo hình thức trái phiếu công trình để đảm bảo việc vận hành và lợi nhuận cho các dự án PPP dài hạn, nhất là trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, như: đường bộ cao tốc, tàu điện ngầm đô thị, đường sắt tốc độ cao...
Đối với khía cạnh Hiệu quả trong quá trình chuẩn bị dự án
Chính sách của Nhà nước cần đẩy mạnh hơn nữa việc đảm bảo thông tin của dự án và chất lượng nhà thầu tham gia. Cần cụ thể hóa việc nâng cao hiệu quả dự án này thông qua việc xây dựng một hành lang pháp lý ổn định, với các luật, nghị định, thông tư và các hướng dẫn thực thi khác rõ ràng để cả Nhà nước và nhà đầu tư thực hiện. Các quy định về dự án PPP cũng cần bổ sung thêm yêu cầu công khai thông tin về dự án PPP trong suốt vòng đời dự án, bao gồm cả thông tin về tiến độ thực hiện để tạo môi trường thông tin thông suốt cho các nhà đầu tư cũng như đảm bảo sự tham gia giám sát của cộng đồng.
Đối với khía cạnh Khả năng cấp vốn cho dự án
Ở khía cạnh Khả năng cấp vốn cho dự án, các yếu tố: Khả năng tiết kiệm trong tổng chi phí dự án và yếu tố: Giải quyết các vấn đề hạn chế về ngân sách nhà nước, được đánh giá là 2 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất tới việc hoàn thành dự án PPP. Như vậy, phần lớn những người tham gia khảo sát đều hiểu rằng, các dự án PPP được thực hiện nhằm mục đích giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về các suất đầu tư dự án PPP tại Trung Quốc cho thấy rằng, không hẳn việc đầu tư PPP là có hiệu quả về mặt tài chính hơn là đầu tư công thông thường. Điều này đặt ra một vấn đề là Nhà nước cần xác định khi có một dự án cần đầu tư, ví như xây dựng kết cấu hạ tầng, thì khi muốn chuyển phương án đầu tư công sang đầu tư PPP, cần phải có các tính toán hợp lý để không gây thiệt hại đến lợi ích của người dân và người tiêu dùng.
Về giải pháp tài chính, để có sự minh bạch trong quá trình thực hiện dự án và cũng hạn chế rủi ro tài chính, cần đa dạng hóa nguồn tài chính, bao gồm: vốn chủ đầu tư ban đầu, vốn vay thương mại, vốn trái phiếu công trình và vốn từ các nguồn khác (quỹ đầu tư, cổ đông vãng lai). Các cơ chế đa bên với sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều góc độ, sẽ tạo ra sự đàm phán, thẩm định và giám sát tập thể, khách quan và minh bạch đối với dự án, thay cho cơ chế thỏa thuận hai bên là chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước như hiện nay.
Đối với khía cạnh Chính trị và môi trường kinh doanh
Ổn định chính trị ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của dự án PPP, nhất là khi nhiều dự án có thời gian thực hiện dài (10-30 năm). Nếu môi trường kinh doanh không thuận lợi (tham nhũng, thủ tục hành chính rườm rà, thiếu minh bạch), nhà đầu tư sẽ gặp nhiều rủi ro tài chính và pháp lý. Thay đổi chính sách đột ngột, như: điều chỉnh giá dịch vụ PPP hoặc thay đổi phương thức hợp tác, có thể làm giảm hiệu quả quản trị rủi ro tài chính. Điều này gợi ý cho những nhà làm chính sách cần minh bạch hóa và chuyên nghiệp hóa việc thực hiện dự án PPP. Đối với việc minh bạch hóa, các dự án PPP nên thực thi theo các thông lệ quốc tế nhằm tận dụng được các cơ chế hợp tác và minh bạch mà các nước phát triển đã sử dụng, đồng thời cũng là cơ hội thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Các dự án PPP cũng nên có quá trình tham vấn cộng đồng, nhằm có thêm các bên giám sát, đảm bảo sự minh bạch và trung thực trong quá trình hợp tác, hài hòa lợi ích của các bên liên quan./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Akintoye, A., Craig, T., and Eamon, F. (1998), Risk analysis and management of private finance initiative projects, Engineering, Construction and Architectural Management, 5(1), 9-21.
2. Beyene, T. (2014), Factors for Implementing Public-Private Partnership (PPP) in thedevelopment process: Stakeholders’ perspective from Ethiopia, International Journal of Science and Research, 3(3), 792-797.
3. Chan, A. P., Lam, P. T. I., Chan, D. W. M., Cheung, E., and Ke, Y. (2010), Critical success factors for PPPs in infrastructure developments: Chinese perspective, Journal of Construction Engineering and Management, 136(5), 484-494.
4. Cheung, E., Chan, A. P. C., and Kajewski, S. (2009), Reasons for implementing public private partnership projects: Perspectives from Hong Kong, Australian and British practitioners, Journal of Property Investment & Finance, 27(1), 81-95. doi:10.1108/14635780910926685.
5. European Commission (2003), Guidelines for successful public - Private partnerships, retrieved from
https://ec.europa.eu/regional_policy/sources/docgener/guides/ppp_en.pdf.
6. European PPP Expertise Centre (2010), The guide to guidance: How to prepare, procure and deliver PPP projects, retrieved from https://www.utap.gov.pt/Publicacoes_interna/guide-to-guidance-en.pdf.
7. Ghobadian, A., O’Regan, N., Gallear, D., and Viney, H. (2004), Public-private partnerships: Policy and experience, Basingstoke, UK: Palgrave Macmillan.
8. Grimsey, D., and Lewis, M. K. (2002), Evaluating the risks for public private partnerships for infrastructure projects, International Journal of Project management, 20(2), 107-118.
9. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., and Tatham, R. L. (2006), Multivariate data analysis, Upper Saddle River, NJ: PearsonPrentice Hall.
10. Huynh, G. T. T. (2012), Hình thức hợp tác công tư để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Ismail, S. (2013), Critical success factors of public private partnership (PPP) implementation in Malaysia, Asia-Pacific Journal of Business Administration, 5(1), 6-19.
12. Ismail, S., and Ajija, S. R. (2012), Critical success factors of public private partnership (PPP) implementation in Malaysia, Jurnal Akuntansi dan Keuangan Indonesia, 4(2), 137-154.
13. Kwak, Y. H., Chih, Y., and Ibbs, C. W. (2009), Towards a comprehensive understanding of public private partnerships for infrastructure development, California Management Review, 51(2), 51-78.
14. Li, B., Akintoye, A., Edwards, P. J., and Hardcastle, C. (2005), Critical success factors for PPP/PFI projects in the UK construction industry, Construction Management and Economics, 23(5), 459-471.
15. Li, J., and Zou, P. (2012), Risk identification and assessment in PPP infrastructure projects using fuzzy analytical hierarchy process and life-cycle methodology, Australasian Journal of Construction Economics and Building, 8(1), 34-48.
16. Mouraviev, N. (2012), Risk management in public-private partnerships and research agenda for transitional countries, International Journal of Management & Business Studies, 2(2), 27-41.
17. Tang, L. Y., Shen, Q., Skitmore, M., and Cheng, E. W. L. (2013), Ranked critical factors in PPP briefings, Journal of Management in Engineering, 29(2), 164-171.
18. Vassallo Magro, J. M., and Bartolomé, R. I. (2010), Infraestructura pública y participación privada: Conceptosy experiencias en América y España, retrieved from http://scioteca.caf.com/handle/123456789/421.
19. Vu Minh (2013), Quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, 29(3), 53-60.
20. Walker, C. T., and Smith, A. J. (1995), Privatized infrastructure: The build operate transfer approach, London, UK: Thomas Telford.
21. Wang, X. (2017), Risk management of PPP projects in China (Dissertation No. 482), retrieved from http://urn.kb.se/resolve?urn=urn:nbn:se:kth:diva-211147.
22. Yescombe, E. (2007), Public-private partnerships: Principles of policy and finance, Amsterdam: Elsevier Butterworth-Heinemann.
23. Yitmen, I., Akiner, I., and Tekce, I. (2012), Applicability of second generation public private partnership projects in turkey: A conceptual framework, Paper presented at the International Conference on Innovation in Architecture, Engineering and Construction, Sao Paulo, Brasil.
24. Yuan, J., Wang, C., Skibniewski, M. J., and Li, Q. (2011), Developing key performance indicators for public-private partnership projects: Questionnaire survey and analysis, Journal of Management in Engineering, 28(3), 252-264.
25. Zhang, X. (2005), Critical success factors for public–private partnerships in infrastructure development, Journal of construction engineering and management, 131(1), 3-14.
| Ngày nhận bài: 16/02/2025; Ngày phản biện: 24/02/2025; Ngày duyệt đăng: 28/02/2025 |


Bình luận